NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ THÀNH PHẦN CẤP PHỐI VẬT LIỆU VỮA XÂY DỰNG PHỤC VỤ CÔNG NGHỆ IN 3D


Tóm tắt nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung giải quyết bài toán cốt lõi trong công nghệ in 3D xây dựng (3D Construction Printing - 3DCP): Làm thế nào để thiết kế thành phần cấp phối vữa từ nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương vừa đảm bảo tính công tác (khả năng đùn ép, độ lưu động thích hợp), vừa đạt khả năng giữ hình dạng sau khi rải và phát triển cường độ chịu lực tối ưu?

Nhóm tác giả đã triển khai phương pháp thực nghiệm toàn diện dựa trên 4 cấp phối thử nghiệm (CP1 đến CP4) với hàm lượng chất kết dính (xi măng PCB40) giảm dần từ 45,67% xuống 36,67%, kết hợp cát vàng Bình Dương (mô đun độ lớn 2,18) và tỷ lệ Nước/Xi măng (N/X) dao động từ 0,35 – 0,40. Các đặc tính lưu biến và cơ lý được kiểm chứng qua thí nghiệm bàn dằn (TCVN 3121-2003), hệ thống máy đùn ép áp lực 700–800 N, cùng phép thử cường độ uốn, nén ở tuổi 7 ngày.

Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng các cấp phối đều đạt độ lưu động tối ưu trong khoảng 14,3 – 16,5 cm, cho phép hỗn hợp chảy êm qua đường ống và giữ nguyên hình khối dạng hộp chữ nhật (90×35×2 cm) mà không cần ván khuôn. Đặc biệt, cấp phối CP2 (giảm 20% xi măng so với CP1, N/X = 0,35) đạt cường độ nén 7 ngày vượt trội lên đến 53,7 N/mm², trong khi CP3 thể hiện tính công tác và độ đồng nhất tốt nhất để in cấu kiện tường chịu lực.

Nghiên cứu khẳng định tính khả thi vượt trội của việc ứng dụng vật liệu địa phương vào tự động hóa thi công, đặt nền tảng quan trọng cho việc thương mại hóa công nghệ in 3D nhà ở và sản xuất cấu kiện đúc sẵn tại Việt Nam.


Bối cảnh và tầm quan trọng

Thực trạng và khoảng trống nghiên cứu

Công nghệ sản xuất đắp dần (Additive Manufacturing) hay in 3D đang tạo nên một cuộc cách mạng trong các ngành công nghiệp chế tạo, từ hàng không, ô tô đến y tế và kiến trúc. Trong lĩnh vực xây dựng, in 3D mang lại lời giải đột phá cho bài toán rút ngắn thời gian thi công, loại bỏ hoàn toàn chi phí cốp pha (ván khuôn), tiết kiệm tới 40% tổng ngân sách xây dựng và giảm thiểu tối đa tai nạn lao động cũng như phát thải vật liệu dư thừa ra môi trường.

Tuy nhiên, rào cản lớn nhất đối với việc ứng dụng công nghệ in 3D dạng đùn ép (Extrusion-based 3DCP) hiện nay nằm ở sự mâu thuẫn trong các yêu cầu lưu biến của vật liệu:

  • Vữa tươi cần đủ lỏng và dẻo (độ nhớt thấp khi chịu áp lực cắt) để bơm đùn liên tục qua đường ống dẫn và vòi phun mà không gây tắc nghẽn.
  • Ngay sau khi rời khỏi đầu in, vữa phải lập tức đạt trạng thái tĩnh (độ nhớt cấu trúc cao) và đóng rắn nhanh để gánh đỡ tải trọng bản thân cùng áp lực thủy tĩnh từ các lớp in kế tiếp đè lên mà không bị biến dạng, phình ngang hay sụp đổ cấu trúc.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về thiết kế cấp phối vật liệu cho công nghệ in 3D còn rất hạn chế. Phần lớn các dự án trên thế giới dựa vào các hỗn hợp độc quyền đắt đỏ hoặc phụ gia đặc chủng khó tiếp cận ở quy mô đại trà. Do đó, việc nghiên cứu một cấp phối vữa tối ưu từ nguồn nguyên liệu nội địa (xi măng tiêu chuẩn, cát sông sẵn có) là vô cùng cấp thiết nhằm lấp đầy khoảng trống công nghệ và mở đường cho ứng dụng thực tiễn.

Tính thời điểm và tiềm năng tác động

Trong bối cảnh ngành xây dựng Việt Nam đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân công tay nghề cao, áp lực chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững theo xu hướng Công nghiệp 4.0, đề tài mang tính tiên phong rõ rệt. Việc làm chủ công thức cấp phối vữa in 3D không chỉ giúp các doanh nghiệp xây dựng hạ giá thành sản phẩm mà còn mở ra tiềm năng giải quyết nhanh chóng nhu cầu nhà ở xã hội giá rẻ, công trình cứu trợ khẩn cấp sau thiên tai và các cấu kiện kiến trúc có hình khối hình học phức tạp.


Methodology và approach

Thiết kế nghiên cứu và ma trận cấp phối

Nghiên cứu áp dụng quy trình thực nghiệm định lượng có đối chứng, tập trung khảo sát 4 thành phần cấp phối vữa cốt liệu mịn (ký hiệu CP1, CP2, CP3, CP4). Biến số can thiệp chính là hàm lượng xi măng (giảm dần từ 0%, 20%, 30% đến 40% so với CP1 ban đầu) và tỷ lệ N/X, nhằm xác định ngưỡng cân bằng giữa tính kinh tế, tính linh động và độ đặc chắc của khối in.

  • Xi măng: Xi măng Pooclăng hỗn hợp Phúc Sơn PCB40, đáp ứng nghiêm ngặt tiêu chuẩn TCVN 6260-2009.
  • Cốt liệu mịn: Cát vàng Bình Dương được sàng rửa kỹ, đạt mô đun độ lớn $M_L = 2,18$, khối lượng thể tích $1,7\text{ g/cm}^3$, thỏa mãn TCVN 7570-2006. Kích thước hạt được kiểm soát dưới ngưỡng $2-3\text{ mm}$ để ngăn ngừa tắc vòi đùn.
  • Nước nhào trộn: Nước sinh hoạt tiêu chuẩn theo TCVN 4506-2012.
+-----------------------------------------------------------------------------+
|                             QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM                            |
+-----------------------------------------------------------------------------+
|  [Định lượng nguyên liệu] -> Trộn khô (2 phút) -> Trộn ướt (3 phút)         |
|                                     ↓                                       |
|  [Kiểm tra vữa tươi]      -> Đo độ lưu động bàn dằn (TCVN 3121-2003)        |
|                                     ↓                                       |
|  [Tạo hình in 3D]         -> Đùn ép piston (700-800 N, v = 50 mm/s)         |
|                                     ↓                                       |
|  [Kiểm chuẩn cơ lý 7 ngày]-> Thí nghiệm uốn, nén (mẫu 40×40×160 mm)         |
+-----------------------------------------------------------------------------+

Phương pháp tạo mẫu và quy trình in 3D

Hệ thống tạo mẫu sử dụng thiết bị đùn vữa piston cơ khí, kết nối với đường ống dẫn và đầu vòi phun tiết diện chữ nhật. Kích thước lớp in chuẩn được thiết lập là 90×35×2 cm.

  1. Quy trình trộn: Xi măng và cát được trộn khô đồng nhất trong 2 phút, sau đó cấp nước và tiến hành trộn ướt trong 3 phút.
  2. Kiểm soát động học in: Áp lực ép của piston được duy trì ổn định ở mức 700 – 800 N; tốc độ tịnh tiến của đầu vòi phun được khống chế ở $50\text{ mm/s}$. Chu kỳ nhào trộn và rải vữa cho mỗi lớp được thiết lập là 10 phút, kết hợp thời gian nghỉ 5 phút giữa các mẻ để đồng bộ hóa tốc độ ninh kết và biến đổi lưu biến của vật liệu.
  3. Bảo dưỡng mẫu: Sau khi in, các lớp vữa được phủ màng nilon chống mất nước bề mặt và dưỡng ẩm liên tục nhằm triệt tiêu nứt co ngót.

Phương pháp kiểm tra và độ tin cậy

  • Độ lưu động (Flowability): Đo đường kính vữa loang sau khi dằn trên bàn dằn chuẩn theo TCVN 3121-2003.
  • Khối lượng thể tích vữa tươi: Xác định qua bình đong định mức thể tích 1 lít theo TCVN 3121-2003.
  • Cường độ cơ học: Đúc các thỏi vữa tiêu chuẩn kích thước 40×40×160 mm, dưỡng hộ ẩm 7 ngày, sau đó tiến hành nén và uốn trên máy thử thủy lực chuyên dụng. Toàn bộ phép đo được lặp lại nhằm đảm bảo độ lặp lại và độ tin cậy thống kê cao.

Phát hiện chính

Các dữ liệu thực nghiệm đã mang lại những phát hiện có giá trị thực tiễn sâu sắc về mối quan hệ giữa tỷ lệ cấp phối, hành vi dòng chảy và các thông số cơ lý của vật liệu in 3D:

Cấp phối Lượng Xi măng (g) Nước (g) Cát (g) Tỷ lệ N/X Độ lưu động (cm) Cường độ nén 7 ngày (N/mm²) Cường độ uốn 7 ngày (N/mm²) KLTT vữa tươi (kg/m³)
CP1 6120 2260 5020 0,37 16,50 42,0 0,860 2097
CP2 4896 1714 5020 0,35 14,30 53,7 0,720 2126
CP3 4284 1542 5020 0,36 16,00 48,2 1,050 2149
CP4 3672 1322 5020 0,36 16,25 45,6 1,194 2188

1. Khoảng độ lưu động tối ưu cho kỹ thuật đùn ép vữa

Thí nghiệm bàn dằn cho thấy cả 4 cấp phối đều đạt độ lưu động nằm trong dải vàng 14,3 – 16,5 cm. Cấp phối CP1 có độ lưu động cao nhất (16,5 cm) do hàm lượng hồ xi măng lớn bao bọc cốt liệu. Tuy nhiên, CP3 (16,0 cm) thể hiện tính công tác hoàn hảo nhất: hỗn hợp không bị tách nước, không vón cục, đùn êm ái qua vòi in mà vẫn duy trì tính toàn vẹn hình học không bị biến dạng hay phình mép.

2. Sự phát triển bất đối xứng giữa cường độ nén và hàm lượng xi măng

Một phát hiện thực nghiệm rất đáng chú ý là hàm lượng xi măng cao nhất không đồng nghĩa với cường độ nén cao nhất. Cấp phối CP2 (đã giảm 20% lượng xi măng so với CP1, kiểm soát N/X ở mức 0,35) đạt cường độ nén 7 ngày cao nhất, lên tới 53,7 N/mm² (vượt trội hơn hẳn so với mức 42,0 N/mm² của CP1). Điều này được giải thích bởi tỷ lệ N/X thấp kết hợp với sự phối trộn cốt liệu đạt độ đặc chắc cấu trúc vi mô tối đa, giảm thiểu độ rỗng mao dẫn trong khối vữa đóng rắn.

3. Quy luật cường độ chịu uốn và khối lượng thể tích

Khác với cường độ nén, cường độ chịu uốn lại đạt giá trị cực đại ở CP4 ($1,194\text{ N/mm}^2$) – cấp phối có hàm lượng xi măng giảm 40%. Nguyên nhân là do tỷ lệ cốt liệu cát tăng cao tạo nên khung cốt cứng chịu lực uốn gãy tốt hơn. Đồng thời, khối lượng thể tích của vữa tươi tăng tuyến tính từ CP1 ($2097\text{ kg/m}^3$) đến CP4 ($2188\text{ kg/m}^3$), phản ánh sự gia tăng tỷ trọng của cốt liệu hạt thô trong thể tích đơn vị.

4. Tác động của các thông số động học in (Kinematic parameters)

Nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng bề mặt và độ ổn định của khối in phụ thuộc mật thiết vào sự tương tác giữa tốc độ đùn và tốc độ di chuyển vòi:

  • Tốc độ rải quá nhanh (> 50 mm/s): Gây đứt đoạn mạch in do lực kéo căng vượt quá giới hạn dẻo của sợi vữa.
  • Tốc độ rải quá chậm hoặc không đều: Gây ứ đọng vữa cục bộ, làm biến dạng mặt cắt lớp in.
  • Tỷ lệ N/X quá cao (> 0,40): Làm giảm ma sát trong, khiến các lớp dưới bị bẹp và giảm chiều dày thiết kế dưới áp lực của các lớp trên.
  • Tỷ lệ N/X quá thấp (< 0,35): Gây tắc vòi đùn và sinh ra các vết nứt tế vi phân tầng ở rìa lớp in.

Đóng góp khoa học

Đóng góp về mặt lý thuyết và học thuật

  • Xác lập mối tương quan Lưu biến – Khả năng in (Rheology-to-Printability): Đề tài cung cấp các dẫn liệu thực nghiệm chính xác về sự tương tác giữa hàm lượng chất kết dính, tỷ lệ N/X và độ lưu động bàn dằn trong việc quyết định tính năng đùn (extrudability) và khả năng xây chồng lớp (buildability) của vữa xây dựng.
  • Mở rộng nguồn tài liệu chuyên khảo: Đóng góp bộ số liệu thực nghiệm chuẩn mực về vữa in 3D tại Việt Nam, phục vụ nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Kỹ thuật Công trình Xây dựng và Vật liệu Tiên tiến.

Đóng góp thực tiễn và đổi mới công nghệ

  • Làm chủ công thức cấp phối từ vật liệu bản địa: Chứng minh hoàn toàn có thể chế tạo vữa in 3D chất lượng cao (cường độ nén > 50 N/mm²) từ xi măng PCB40 và cát sông thông thường mà không nhất thiết phải phụ thuộc vào các hóa chất phụ gia siêu dẻo ngoại nhập đắt tiền.
  • Tối ưu hóa chi phí sản xuất: Xác định công thức giảm 20% – 30% hàm lượng xi măng (CP2, CP3) mà vẫn đảm bảo độ bền vượt trội, trực tiếp giúp giảm giá thành vật tư và giảm lượng phát thải $CO_2$ từ ngành sản xuất xi măng.
  • Ứng dụng chế tạo cấu kiện đúc sẵn: Đề tài đã thử nghiệm in thành công kết cấu tường chịu lực in 3D với độ hoàn thiện cao, mở ra quy trình chuẩn hóa cho các dây chuyền sản xuất cấu kiện bê tông lắp ghép tự động.

Đối tượng quan tâm

Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng và tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Kỹ sư và Doanh nghiệp Xây dựng / Bê tông đúc sẵn: Tiếp cận công thức cấp phối đã được tối ưu hóa chi phí để triển khai các mô hình in 3D cấu kiện tường, cột, vách ngăn trang trí hoặc mô hình nhà tiền chế tự động, giảm phụ thuộc vào nhân công thợ nề.
  • Các nhà nghiên cứu học thuật và Giảng viên: Sử dụng khung phương pháp và số liệu thực nghiệm làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu chuyên sâu về cơ học đứt gãy giữa các lớp in (interlayer bonding), lưu biến học bê tông, và vật liệu địa polyme thân thiện môi trường.
  • Kiến trúc sư và Nhà thiết kế công trình: Hiểu rõ các giới hạn vật liệu (chiều cao lớp in, độ vươn cong, tốc độ hóa rắn) để tự do sáng tạo các kết cấu kiến trúc tham số (parametric architecture) uốn lượn phức tạp mà cốp pha truyền thống không thể thi công được.
  • Các cơ quan quản lý đô thị và hoạch định chính sách: Nắm bắt cơ sở khoa học để xây dựng bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia (TCVN) cho công nghệ in 3D trong xây dựng, hướng đến mục tiêu phát triển nhà ở xã hội bền vững và ứng phó thiên tai.

Câu hỏi thường gặp (FAQ)

1. Phát hiện quan trọng nhất của đề tài này là gì?

Phát hiện cốt lõi là việc chứng minh cấp phối CP2 (giảm 20% xi măng so với cấp phối gốc, tỷ lệ N/X = 0,35) đạt cường độ nén 7 ngày cao nhất (53,7 N/mm²), vượt trội hơn cấp phối có hàm lượng xi măng cao nhất. Đồng thời, CP3 được xác định là cấp phối có tính công tác cân bằng nhất để in thực tế các cấu kiện tường chịu lực ổn định hình dáng.

2. Phương pháp nghiên cứu trong đề tài có điểm gì đặc biệt?

Nghiên cứu kết hợp đồng thời phương pháp thí nghiệm cơ lý tiêu chuẩn (bàn dằn, nén uốn theo TCVN 3121-2003) với việc tự chế tạo hệ thống đùn ép vữa bằng piston thực tế. Quy trình này kiểm soát chặt chẽ cả 3 yếu tố: áp lực đùn (700–800 N), tốc độ di chuyển vòi ($50\text{ mm/s}$) và chu kỳ thời gian đồng bộ hóa (10 phút/lớp) nhằm mô phỏng chính xác điều kiện in 3D công nghiệp.

3. Kết quả của nghiên cứu có thể tổng quát hóa và mở rộng quy mô không?

Có. Quy trình thiết kế cấp phối dựa trên các vật liệu tiêu chuẩn phổ biến (xi măng PCB40, cát vàng xây dựng), do đó hoàn toàn có thể nhân rộng quy mô cho các trạm trộn bê tông thương phẩm hoặc tích hợp vào các cánh tay robot in 3D công nghiệp cỡ lớn tại công trường.

4. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần triển khai là gì?

Các bước đi tiếp theo cần tập trung vào:

  • Khảo sát cường độ ở tuổi dài ngày (28 ngày, 90 ngày) và kiểm tra độ bền liên kết giữa các lớp in (interlayer bond strength).
  • Nghiên cứu bổ sung sợi gia cường (sợi PP, sợi thủy tinh) và tro bay, xỉ lò cao để nâng cao độ bền uốn và giảm nhiệt thủy hóa.
  • Tích hợp vòi phun có khả năng tự động điều chỉnh lưu lượng theo thuật toán điều khiển số máy tính (CNC).

5. Cấp phối vữa này có thể ứng dụng thực tế vào những hạng mục nào ngay lập tức?

Hỗn hợp vữa tối ưu có thể được ứng dụng ngay trong việc in chế tạo các sản phẩm bê tông đúc sẵn (precast components) như: chậu cây cảnh quan, ghế công viên, hố ga, tấm tường ngăn không chịu lực và các cấu kiện module lắp ghép nhà ở diện tích nhỏ.


Kết luận

Nghiên cứu "Xác định yêu cầu và thiết kế thành phần cấp phối đáp ứng các yêu cầu về tính công tác của vật liệu xây dựng phục vụ in 3D" của nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM đã giải quyết thành công bài toán tối ưu hóa vật liệu cho công nghệ in 3D tại Việt Nam. Bằng việc chứng minh cấp phối CP2 và CP3 đạt tính công tác linh động (độ lưu động 14 – 16 cm) cùng cường độ chịu lực ấn tượng (> 53 N/mm²), nghiên cứu khẳng định tiềm năng to lớn của việc tự động hóa ngành xây dựng với nguồn nguyên liệu nội địa.

Đây là tiền đề khoa học vững chắc để các nhà phát triển công nghệ và doanh nghiệp xây dựng tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa quy trình và đưa công nghệ in 3D vào ứng dụng thương mại rộng rãi trong tương lai gần.