Đặt vấn đề Ta thấy giá của một Quyền chọn mua kiểu Châu Âu có liên quan đến giá của Quyền chọn bán kiểu Châu Âu. Giả sử ta cần bán một Quyền chọn mua có bảo kê (quyền chọn mua được bảo đảm bằng những tài sản cơ sở). Nói cách khác, ta quyết định mua một cổ phiếu với giá S và bán một Quyền chọn mua với giá C (thời gian và giá thực thi là tùy ý). Vì lo ngại rằng giá cổ phiếu có thể bị sụt giá, ta mua một Quyền chọn bán với giá P với cùng một thời hạn và giá thực thi như Quyền chọn mua.
Phân tích TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.8 Quyền chọn cặp đôi (Parity Option) 14 Ta thấy, giá của vị thế ngày hôm nay là: S + P − C Gọi giá thực thi chung của Quyền chọn bán và Quyền chọn mua là X. Khi đó, giá của vị thế vào ngày đáo hạn luôn băng X. Thật vậy - Nếu S ≥ X lúc đó bạn đem giao cổ phiếu cho người mua Quyền chọn mua, còn Quyền chọn bán của bạn thì không có giá trị gì. - Nếu S < X lúc đó bạn giao cổ phiếu cho người bán Quyền chọn bán, còn Quyền chọn mua của bạn thì không có giá trị gì.
Công thức cặp đôi mua bán Dù xảy ra tình huống nào thì giá của vị thế của bạn luôn luôn là X vì bạn ở vị trí tất định, nên ta có: (S + P − C) = e−r(T −t) X Trong đó r: là lãi suất không rủi ro. T − t: là khoảng thời gian từ hôm nay (t) cho đến lúc đáo hạn (T ). C: là giá bán một Quyền chọn mua. P : là giá mua một Quyền chọn bán.
Do đó, ta có công thức cặp đôi Mua - Bán: (C − P ) = S − e−r(T −t) X Chú ý: Nếu (C − P ) 6= S − e−r(T −t) X thì những kẻ ăn chênh lệch giá sẽ điều chỉnh nhanh chóng hiệu số C − P này để cho nó ngang bằng với S − e−r(T −t) X bằng cách mua hay bán vị thế S + P − C.2 Các Quyền chọn Mua - Bán tiền tệ cặp đôi (Put Call Parity for Currency Option) Đặt tình huống: Ta bắt đầu từ một cặp cố định tiền nội tệ và tiền ngoại tệ như sau: C: là giá một Quyền chọn mua một đơn vị tiền ngoại tệ vào thời điểm T trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.8 Quyền chọn cặp đôi (Parity Option) 15 K: là giá thực thi (tính theo số đồng tiền nội tệ dùng để đổi lấy một đồng ngoại tệ). Tức là, người giữ Quyền chọn mua đó trả cho đối tác K đơn vị tiền nội tệ vào thời điểm (T ) đó. P : là giá một Quyền chọn bán một đơn vị tiền ngoại tệ với cùng một giá thực thi (K đơn vị tiền nội tệ) và cùng một thời gian đáo hạn T.
Giả sử rằng cả Quyền bán lẫn Quyền mua đều được tính theo tiền nội tệ, gọi S0 là giá giao ngay hôm nay (hôm nay cần có S0 đồng tiền nội tệ để đổi lấy một đồng ngoại tệ). Kế hoạch mua bán Quyền chọn 1. Mua một Quyền chọn bán. Bán một Quyền chọn mua.
Vay S0 e−RF T đơn vị tiền nội tệ. Mang đổi số tiền vay đó thành ngoại tệ. Đầu tư số tiền ngoại tệ đó với lãi suất đồng ngoại tệ ở nước ngoài RF. Tổng số tiền thu hoạch được: P + S0 e−RF T − C.
Đến thời điểm T , ta phải bố trí lại kế hoạch, số tiền S0 e−RF T ta đã dùng để đổi lấy một đồng ngoại tệ. Ở thời điểm T , giá giao ngay là ST ta sẽ phải: • Nếu ST ≥ K thì người giữ Quyền chọn mua sẽ thực thi quyền đó và ta phải trả cho người này 1 đồng ngoại tệ và thu về K đồng nội tệ. • Nếu ST < K thì người bán cái Quyền chọn bán cho ta sẽ thực thi quyền đó và ta phải trả 1 đồng ngoại tệ cho người này và thu về K đồng nội tệ. Nhận xét: Ta bỏ ra 1 đồng ngoại tệ và luôn thu về K đồng nội tệ (không phụ thuộc và giá giao ngay tại thời điểm T ).
Công thức cặp đôi Mua - Bán Theo kế hoạch trên thì ta đã đầu tư số tiền nội tệ là P − C + S0 e−RF T tại thời điểm t0 và ta hy vọng rằng: P − C + S0 e−RF T eRD T = K TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.9 Bảo hộ giá (Hedging) 16 Với RD là lãi suất đồng nội tệ trong nước. Do đó C − P = S0 e−RF T − Ke−RD T Đây là công thức cặp đôi Mua - Bán. Chú ý: Vụ mua bán này là hoàn toàn tất định và do đó nếu có bất kỳ một dấu hiệu giá nào khác với C − P xác định trên thì có cơ hội kiếm được lời không rủi ro thông qua độ chênh thị giá.9 Bảo hộ giá (Hedging) 1.1 Bảo hộ giá Là phương tiện để giảm thiểu tối đa những rủi ro tài chính. Bảo hộ giá là một loại hình bảo hiểm.
Người ta bảo hộ giá các cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, hàng hóa và các hợp đồng có kỳ hạn. Bảo hộ giá cũng có nghĩa là hạn chế rủi ro.2 Bảo hộ giá bằng hợp đồng Quyền chọn i) Trường hợp mua chứng khoán và bán hợp đồng Quyền chọn mua: Người bán hợp đồng và Quyền chọn mua có bảo kê nhằm giảm rủi ro khi giá chứng khoán cơ sở giảm bằng cách bù đắp lại bằng phí mua Quyền chọn mà người bán nhận được khi bán hợp đồng Quyền chọn mua và trong trường hợp hợp đồng mua được thực hiện, người bán sẽ lấy chứng khoán trong tay để giao. ii) Trường hợp mua chứng khoán và mua hợp đồng Quyền chọn bán: Bảo hộ giá khi giảm: Nếu nhà đầu tư có chứng khoán, ông ta có thể bảo hộ rủi ro giá chứng khoán giảm bằng cách mua những hợp đồng bán theo giá đã mua chứng khoán. Vì thế chứng khoán có trong tay sẽ được bảo hộ khi giá chứng khoán giảm, lúc đó họ sẽ thực hiện hợp đồng bán để bù đắp lại (miễn là hợp đồng còn hiệu lực).
iii) Trường hợp bán khống chứng khoán và mua hợp đồng Quyền chọn mua: Đây là hình thức bảo đảm để bảo hộ vị thế bán khống chứng khoán. Tức là, nhà đầu tư mua hợp đồng mua để giới hạn sự rủi ro về sự chênh lệch giữa giá điểm của hợp đồng Quyền chọn mua và giá chứng khoán mà ông ta đã vay mượn. Việc mua Quyền chọn sẽ giảm toàn bộ tiềm năng lợi nhuận của việc bán khống vì phải trả phí mua Quyền chọn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.9 Bảo hộ giá (Hedging) 17 iv) Trường hợp bán khống chứng khoán và bán hợp đồng Quyền chọn bán: nhà đầu tư bán hợp đồng Quyền chọn bán để bảo vệ một phần vị thế bán khống của mình.
Nếu giá chứng khoán tăng, nhà đầu tư sẽ dùng số phí mua Quyền chọn đã nhận được (do bán hợp đồng bán) để bù đắp một phần thua lỗ (do phải trả lại chứng khoán đã vay).3 Bảo hộ giá bằng các "Bảo đảm lãi suất bị chặn" Bảo đảm lãi suất bị chặn: là một loại thỏa hiệp tín dụng hai chiều bảo vệ cho cả người vay lẫn người cho vay tránh được biến động lãi suất thị trường. Thỏa hiệp này bao gồm một mức thấp nhất (mức sàn) và mức cao nhất (mức trần). Thỏa hiệp này đảm bảo cho: Đối với người cho vay, lãi suất không xuống dưới mức sàn. Còn đối với người vay, lãi suất tín dụng sẽ không tăng cao hơn mức trần đã định, dù cho lãi suất chung của thị trường có tăng đi chăng nữa.
Hợp đồng Quyền chọn bán theo giá hiện hành: bán theo giá hiện hành có nghĩa là một hợp đồng Quyền chọn bán có giá thực thi tương đương hay gần bằng giá chứng khoán hiện hành. Bảo hộ giá bằng một thỏa hiệp "lãi suất bị chặn": để bảo hộ giá một cổ phiếu theo cách này thì người ta mua vào một hợp đồng "Quyền chọn bán theo giá hiện hành" và bán đi một hợp đồng "Quyền chọn mua không có lời". Đặc biệt, số tiền thu được do bán quyền mua sẽ đủ trang trải cho viêc mua quyền bán, không đòi hỏi thêm tiền của nhà đầu tư nữa. Nếu chứng khoán bị rớt giá thì nhà đầu tư sẽ được bảo vệ.
Nếu chứng khoán tăng giá, nhà đầu tư thực thi quyền bán, do đó vẫn có lợi.4 Bảo hộ giá bằng biện pháp "Mua bán cổ phần cặp đôi" Giả sử có Công ty A và B thuộc cùng một nhóm kỹ nghệ. Trong đó, A là "Công ty kỹ nghệ: Siêu lợi nhuận" còn B là "Công ty kỹ nghệ: Có rủi ro". Tên gọi của Công ty đã phản ánh tính chất của các công ty đó. Người ta mua vào 100 cổ phiếu của Công ty A và bán đi một số cổ phiếu của Công ty B với một số tiền bằng với số tiền đã mua cổ phiếu của Công ty A.
Nền kinh tế tăng trưởng, cả hai loại cổ phiếu của Công ty A và B đều có giá nhưng giá cổ phiếu của Công ty A vượt trội giá cổ phiếu của Công ty B. Nếu nền TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.9 Bảo hộ giá (Hedging) 18 kinh tế suy giảm, cả hai loại cổ phiếu của Công ty A và B đều bị sụt giá, nhưng giá cổ phiếu của Công ty B giảm nhanh hơn giá cổ phiếu của Công ty A. Tình huống cũng như vậy nếu xảy ra sự kiện đột biến ngoại lai hoặc nội tại, tác động lên vị trí kỹ nghệ của hai Công ty này trên thị trường. Dù tương lai thế nào thì giá cổ phiếu của Công ty A vẫn vượt trội giá cổ phiếu của Công ty B.
Thoạt nhìn, người ta thấy cung cách này có vẻ là đúng. Do đó, người ta không thể bị mất tiền. Điều đó đúng, nhưng nếu thị trường phát triển khả quan, người ta có thể làm tôt hơn nữa nếu chỉ mua vào cổ phiếu của Công ty A và tránh không mua cổ phiếu của Công ty B. Vậy, người ta bỏ qua lợi nhuận do Công ty B đem lại để bảo vệ mình khỏi khả năng thua lỗ.
Điều đó cũng đúng với mọi biện pháp bảo hộ.5 Bảo hộ tương quan Diễn biến của một số chứng khoán trên thị trường thì có tương quan dương đối với nhau, đối với một số chứng khoán khác thì diễn biến có thể tương quan âm với nhau. Người ta tận dụng thông tin này để xây dựng các phương án đầu tư sao cho làm giảm áp lực của thị trường lên việc đầu tư đến một mức độ mong muốn.