Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn, chuyên ngành Lý luận văn học (mã số: 9220120) của tác giả Phan Trọng Hoàng Linh với đề tài Thi pháp học của M. Bakhtin và sự phát triển thi pháp học ở Việt Nam được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2021), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Huỳnh Như Phương và PGS.TS Hồ Thế Hà.
- Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Sau cột mốc Đổi mới năm 1986, các lý thuyết văn học quay trở lại đời sống học thuật Việt Nam, trong đó thi pháp học giữ vai trò nổi bật. Mikhail Bakhtin là một trong những lý thuyết gia phương Tây được tiếp nhận sớm và quen thuộc bậc nhất ở Việt Nam trên cả hai bình diện lý thuyết và thực hành nghiên cứu. Các luận điểm của ông về đối thoại, diễn ngôn, carnaval, nghịch dị, trào tiếu dân gian, tiểu thuyết đa thanh và thời - không gian nghệ thuật đã tác động sâu sắc đến sự chuyển đổi hệ hình tư duy lý luận văn học nước nhà. Tuy nhiên, sau gần bốn thập niên du nhập, học giới trong nước chủ yếu dừng lại ở việc giới thiệu tản mạn hoặc ứng dụng đơn lẻ vào các hiện tượng văn học cụ thể, chưa có một công trình tổng quan mang tính hệ thống và quy mô để đánh giá toàn diện diện mạo, thành tựu, hạn chế của quá trình dịch thuật, tiếp nhận và phát triển thi pháp học Bakhtin ở Việt Nam. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.
- Mục tiêu nghiên cứu: Tác giả xác định hai mục tiêu cụ thể:
- Khái lược hệ thống thi pháp học của M. Bakhtin với các khái niệm nền tảng (carnaval, nghịch dị, trào tiếu, đối thoại, đa thanh, diễn ngôn, thể loại lời nói, thời - không gian nghệ thuật), chỉ rõ cơ sở triết học và mỹ học của hệ thống lý thuyết này.
- Tổng thuật tình hình dịch thuật, nghiên cứu, tiếp thu và phát triển thi pháp học Bakhtin trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn nghiên cứu - phê bình; phân tích và đánh giá vai trò của các hoạt động đó đối với sự phát triển của thi pháp học Việt Nam trong gần bốn thập niên qua.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Về mặt lý thuyết, luận án tập trung vào các công trình đã công bố của Bakhtin (đặc biệt là những văn bản tạo ảnh hưởng tại Việt Nam), đồng thời mở rộng đến một số trước tác lý thuyết của V. N. Voloshinov, P. N. Medvedev, các đại diện của trường phái hình thức Nga, cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại. Về mặt tiếp nhận, đối tượng là các công trình, bài viết tiêu biểu thể hiện rõ nét diện mạo tiếp nhận Bakhtin trong giới nghiên cứu - phê bình Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi trong các vấn đề thuộc thi pháp học, không bao quát toàn bộ di sản triết học hay xã hội học của Bakhtin ngoài lĩnh vực nghiên cứu văn học. Không gian khảo sát trọng tâm là thực tiễn học thuật Việt Nam từ sau 1986 đến năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả tiến hành tổng thuật tư liệu theo ba bình diện chính:
- Bối cảnh tiếp nhận quốc tế và trong nước: Quá trình chuyển dịch lý thuyết gắn liền với bối cảnh Chiến tranh Lạnh kết thúc, sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu, làn sóng toàn cầu hóa và sự xuất hiện của Internet tại Việt Nam (1991). Luận án phân tích sự vận động đường lối văn nghệ qua ba giai đoạn tại Liên Xô và Trung Quốc (khái quát qua các nghiên cứu của Trần Đình Sử và Lã Nguyên). Ở trong nước, đường lối Đổi mới từ Đại hội VI (1986), các văn kiện cởi trói văn nghệ (Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị năm 1987), cùng các tiếng nói đổi mới học thuật của Hoàng Ngọc Hiến (1979), Nguyễn Minh Châu (1987), Lại Nguyên Ân (1987), Nguyên Ngọc, Phạm Vĩnh Cư đã hình thành chân trời đón nhận lý thuyết ngoại nhập.
- Tình hình dịch thuật và tranh luận tác quyền:
- Về dịch thuật: Bản dịch đầu tiên xuất hiện năm 1980 do Vương Trí Nhàn thực hiện (“Một số khía cạnh phương pháp luận cần lưu ý khi nghiên cứu văn học quá khứ”). Hệ thống tư tưởng tiểu thuyết của Bakhtin được giới thiệu bài bản qua tập sách Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch, 1992) và chuyên luận Những vấn đề thi pháp Dostoievski (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, 1993). Tổng cộng có 2 chuyên luận và 12 tiểu luận/bài viết của Bakhtin đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt.
- Về tranh luận tác quyền (2014 - 2016): Bắt nguồn từ việc Ngô Tự Lập giới thiệu cuốn sách của J.-P. Bronckart và C. Bota (Lột mặt nạ Bakhtin, 2011) nhằm quy kết Bakhtin đạo văn, chiếm đoạt tác quyền công trình của Voloshinov và Medvedev. Cuộc tranh luận thu hút sự tham gia phản biện của Trần Đình Sử, Lã Nguyên, Trần Nho Thìn (dịch bài của S. Zenkin), Thụy Khuê, Lê Huy Bắc, Bửu Nam, Hoàng Phong Tuấn. Luận án xác định lập trường khoa học: không gộp các công trình đứng tên Voloshinov (Chủ nghĩa Freud, Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ) và Medvedev (Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học) vào di sản của Bakhtin, song khẳng định nguyên lý đối thoại là thành tựu tư tưởng chung của cả nhóm, trong đó Bakhtin là người phát triển sâu rộng nhất trên phương diện thi pháp học.
- Tình hình nghiên cứu tiếp nhận trên thế giới và ở Việt Nam:
- Thế giới: Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu của Tz. Todorov (2004), C. Brandist (1996, 2002), A. Compagnon (2006), M. Gasparov (2005), C. Emerson (1997), K. Clark & M. Holquist (1984), J. Sempere (2014), cùng các hướng ứng dụng Bakhtin trong sân khấu (D. McCaw), điện ảnh (M. Flanagan), nghệ thuật thị giác (D. Haynes), tôn giáo (R. Boer), tâm lý học (R. Holland), nữ quyền luận (D. Bauer & S. J. McKinstry), giáo dục (J. K. Hall, G. Vitanova, L. Marchenkova).
- Việt Nam: Điểm qua các ý kiến của Phan Trọng Thưởng (2002), Đỗ Lai Thúy (2010), Nguyễn Văn Dân (2015), Lộc Phương Thủy (2015), Lê Lưu Oanh (2015), Nguyễn Văn Tùng (2015), Trần Đình Sử (2017) và các tham luận tại Hội thảo Tiếp nhận Mikhail Bakhtin ở Việt Nam năm 2019 (Hoàng Phong Tuấn, La Khắc Hòa, Bửu Nam, Bùi Việt Thắng).
- Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ đề cập đến việc tiếp nhận Bakhtin một cách tản mạn, quy mô hẹp hoặc lồng ghép vào bức tranh chung của lý luận văn học. Luận án của Phan Trọng Hoàng Linh là công trình chuyên biệt đầu tiên tổng thuật và đánh giá có hệ thống toàn bộ tiến trình du nhập, tiếp nhận lý thuyết và ứng dụng thực tiễn thi pháp học Bakhtin trong suốt bốn thập kỷ tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu lý luận văn học thuần túy theo định hướng định tính, không sử dụng các kỹ thuật phân tích định lượng hay phần mềm thống kê số liệu.
Cơ sở lý thuyết
| Khung lý thuyết |
Tác giả |
Nội dung và khái niệm vận dụng trong luận án |
| Lý thuyết du hành (Travelling Theory) |
Edward Said |
Khái niệm về hành trình chuyển dịch của lý thuyết qua bốn giai đoạn: điểm xuất phát, khoảng cách truyền dẫn, điều kiện tiếp nhận và mức độ điều chỉnh/bản địa hóa lý thuyết tại bối cảnh mới. |
| Mỹ học tiếp nhận (Reception Aesthetics) |
Hans Robert Jauss |
Khái niệm "chân trời chờ đợi" (horizon of expectations), "sự hòa trộn chân trời" (fusion of horizons), cùng mối quan hệ giữa chân trời bên ngoài (bối cảnh lịch sử - xã hội) và chân trời bên trong (nội tại văn học). |
| Thông diễn học / Tiếp nhận |
Trương Đăng Dung |
Khái niệm "sự vận dụng" và quá trình "tổ chức bản thân" của chủ thể nghiên cứu khi tiếp nhận văn bản lý thuyết ngoại nhập (Tác phẩm văn học như là quá trình, 2004). |
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Hệ thống hóa các tư liệu dịch thuật, phê bình và nghiên cứu lý thuyết, tạo nên cấu trúc nhất quán cho các luận điểm khoa học của đề tài.
- Phương pháp lịch sử - văn hóa: Đặt quá trình du nhập lý thuyết Bakhtin vào bối cảnh lịch sử, xã hội, chính trị của Việt Nam và thế giới từ sau 1986; truy nguyên nguồn gốc văn hóa của các phạm trù carnaval, trào tiếu dân gian.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu các luận điểm nguyên bản của Bakhtin với các công trình nghiên cứu thi pháp học tại Việt Nam để đo lường mức độ tiếp biến, tương đồng và dị biệt; so sánh hiệu quả ứng dụng giữa các nhà nghiên cứu trong nước.
- Phương pháp thống kê - phân loại: Thống kê danh mục các công trình dịch thuật, giới thiệu và nghiên cứu ứng dụng tư tưởng Bakhtin tại Việt Nam, phân loại chúng theo hệ vấn đề lý thuyết và thực tiễn.
Nguồn tư liệu dữ liệu
Nguồn tư liệu của luận án bao gồm: 2 chuyên luận và 12 bài viết/tiểu luận dịch của Bakhtin sang tiếng Việt; bộ Toàn tập Bakhtin (7 tập, Viện Văn học thế giới A. M. Gorky xuất bản năm 2000); các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học về Bakhtin xuất bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga; toàn bộ các chuyên khảo, giáo trình, luận án tiến sĩ và bài viết trên các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Văn học / Nghiên cứu văn học, Lý luận phê bình văn học, nghệ thuật, Tạp chí Ngôn ngữ...) cùng các trang web học thuật (Phê bình văn học, Văn Việt...) liên quan đến việc tiếp nhận Bakhtin tại Việt Nam từ 1980 đến 2021.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 thiết lập bức tranh toàn cảnh về tiến trình du nhập của tư tưởng Bakhtin vào Việt Nam qua ba nội dung:
- Bối cảnh tiếp nhận: Phân tích sự tác động kép từ bối cảnh quốc tế (Chiến tranh Lạnh kết thúc, Liên Xô tan rã, công cuộc cải cách tại Trung Quốc và Liên Xô) và bối cảnh trong nước (Đổi mới 1986, giải phóng tư duy sáng tác khỏi mô hình phản ánh xã hội chủ nghĩa thuần túy, nhu cầu đổi mới thi pháp và lý luận văn học).
- Tác quyền và dịch thuật: Tác giả phục dựng diễn biến cuộc tranh luận học thuật 2014 - 2016 do Ngô Tự Lập khởi xướng dựa trên cuốn sách của Bronckart và Bota. Luận án phân tích các bài viết phản biện của học giả trong và ngoài nước (S. Zenkin, Trần Đình Sử, Lã Nguyên, Thụy Khuê, Lê Huy Bắc...), từ đó xác lập quan điểm khách quan: tôn trọng tên tác giả trên bìa sách xuất bản nhưng nhìn nhận tính thống nhất về mặt tư tưởng của nhóm Bakhtin - Voloshinov - Medvedev. Chương này cũng thống kê chi tiết 2 chuyên luận và 12 tiểu luận của Bakhtin đã được dịch sang tiếng Việt từ năm 1980.
- Tình hình nghiên cứu tiếp nhận: Khảo sát các khuynh hướng nghiên cứu Bakhtin ở Anh, Mỹ, Pháp, Nga trên ba phương diện: giới thiệu, nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng liên ngành; đồng thời chỉ ra tính chất phân tán, đơn lẻ của các nghiên cứu về tiếp nhận Bakhtin tại Việt Nam, khẳng định cơ sở khoa học và tính cấp thiết của luận án.
Chương 2. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG THI PHÁP HỌC CỦA M. BAKHTIN
Chương này tái cấu trúc hệ thống thi pháp học của Bakhtin dựa trên hai trục lý thuyết chính và trục liên kết thể loại:
- Nguyên lý carnaval: Phân tích cội nguồn văn hóa trào tiếu dân gian thời Trung cổ và Phục hưng trong mối tương quan giữa trung tâm (văn hóa chính thống, thần quyền, giáo điều, có xu hướng đông cứng) và ngoại biên (văn hóa dân gian, tự do, sinh thành tại các đường biên tiếp xúc). Tiếng cười trào tiếu mang ba đặc trưng: tính toàn dân (mọi người cùng sống trong lễ hội), tính phổ quát (hướng vào toàn bộ thế giới và chính bản thân), và tính nhị chức năng (vừa phủ định vừa khẳng định, vừa chôn cất vừa tái sinh). Từ đó hình thành quan niệm về văn học carnaval hóa và mỹ học của chủ nghĩa hiện thực nghịch dị gắn với hình tượng thân xác vật chất.
- Nguyên lý đối thoại: Luận giải bản chất đối thoại của ngôn ngữ và tư duy (ngôn ngữ chỉ tồn tại trong sự tương tác liên chủ thể, hướng tới lời của người khác). Khái quát mô hình tiểu thuyết đa thanh qua nghiên cứu của Bakhtin về Dostoievski, nơi nhân vật là một ý thức độc lập, có giá trị bình đẳng với ý thức tác giả, từ bỏ cấu trúc độc thoại quan phương.
- Quan niệm về thể loại văn học: Trình bày lý thuyết về thể loại lời nói (sơ cấp và thứ cấp), đặc trưng bản chất của thể loại tiểu thuyết (thể loại duy nhất chưa hoàn tất, luôn tiếp xúc trực tiếp với hiện tại đang biến đổi), lý thuyết lời hai giọng (double-voiced discourse) và phạm trù thời - không gian nghệ thuật (chronotope) như là tính thống nhất hữu cơ của các quan hệ thời gian và không gian được thể hiện trong tác phẩm.
Chương 3. THI PHÁP HỌC CỦA M. BAKHTIN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN THI PHÁP HỌC Ở VIỆT NAM - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN LÝ THUYẾT
Chương 3 đánh giá tác động của lý thuyết Bakhtin đối với sự chuyển biến của hệ hình thi pháp học lý thuyết tại Việt Nam:
- Đổi mới quan niệm về hình thức nghệ thuật: Lý thuyết Bakhtin hỗ trợ học giới Việt Nam vượt qua quan niệm cơ giới về hình thức và nội dung. Hình thức không còn là "vỏ bọc" kỹ thuật đơn thuần mà là hình thức mang tính nội dung, thể hiện thái độ thẩm mỹ và quan niệm nghệ thuật của chủ thể đối với hiện thực. Quan hệ giữa văn bản và chất liệu ngôn từ được đặt trong chỉnh thể văn hóa rộng lớn.
- Đổi mới quan niệm về phản ánh nghệ thuật: Phá vỡ thế độc tôn của lý thuyết phản ánh cơ học (văn học sao chép hiện thực khách quan một chiều), thay thế bằng quan niệm phản ánh như một hành vi đối thoại, kiến tạo nghĩa giữa các chủ thể ý thức.
- Đổi mới quan niệm về thể loại và tiếp cận văn hóa: Thúc đẩy sự nhìn nhận lại cấu trúc thể loại tiểu thuyết tại Việt Nam, từ bỏ các quy phạm xơ cứng để tiếp cận thể loại như một hiện tượng động, có "ký ức thể loại". Đặt nền móng vững chắc cho khuynh hướng văn hóa học và thi pháp học văn hóa trong nghiên cứu văn học nước nhà.
Chương 4. THI PHÁP HỌC CỦA M. BAKHTIN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN THI PHÁP HỌC Ở VIỆT NAM - NHÌN TỪ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH
Chương 4 khảo sát sự vận dụng thi pháp học Bakhtin vào thực tiễn nghiên cứu văn học sử và phê bình văn học tại Việt Nam:
- Cơ sở ứng dụng: Chỉ ra sự tương thích giữa văn hóa trào tiếu dân gian của Bakhtin với truyền thống văn hóa lễ hội, trào lộng dân gian Việt Nam; đồng thời phân tích nhu cầu đối thoại của xã hội Việt Nam thời kỳ hậu chiến và Đổi mới.
- Ứng dụng ở cấp độ khái niệm:
- Vận dụng nguyên lý carnaval, nghịch dị, giải thiêng, cái tục vào nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương (tiêu biểu là công trình của Đỗ Lai Thúy), văn xuôi trung đại, và các tác giả thời kỳ Đổi mới như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương.
- Vận dụng nguyên lý đối thoại, tính đa thanh, người kể chuyện, lời hai giọng vào phân tích tiểu thuyết hiện đại và đương đại (các tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh...).
- Vận dụng khái niệm thời - không gian nghệ thuật vào việc giải mã cấu trúc tác phẩm của các tác giả cổ điển và hiện đại (Trần Đình Sử vận dụng nghiên cứu Truyện Kiều, thơ Tố Hữu...).
- Ứng dụng ở cấp độ phương pháp luận: Chuyển đổi căn bản phương pháp phân tích tác phẩm: từ phân tích tác phẩm như một cấu trúc đóng sang tiếp cận văn bản như một diễn ngôn xã hội và tiếp cận tác phẩm từ chiều sâu văn hóa học.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp khoa học cụ thể trên hai phương diện:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Xây dựng một bức tranh toàn cảnh, có hệ thống và bao quát về toàn bộ tiến trình tiếp nhận thi pháp học của M. Bakhtin ở Việt Nam trong gần bốn mươi năm (từ 1980 đến 2021), xác định rõ vị trí và ý nghĩa của hệ thống lý thuyết này đối với sự chuyển dịch hệ hình nghiên cứu văn học nước nhà.
- Đánh giá khách quan các khoảng trống, tiềm năng chưa được khai thác của di sản Bakhtin tại Việt Nam; từ đó chỉ ra những kinh nghiệm và bài học học thuật cho việc tiếp nhận các lý thuyết văn học nước ngoài trong tương lai.
- Đưa ra quan điểm phân tích thấu đáo, dung hòa đối với vấn đề tác quyền phức tạp của nhóm Bakhtin - Voloshinov - Medvedev, góp thêm tiếng nói học thuật vào việc tiếp nhận và diễn giải thi pháp học Bakhtin.
- Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Cung cấp hệ thống tư liệu tham khảo cho việc tiếp nhận, chuyển ngữ và vận dụng các lý thuyết văn học phương Tây vào môi trường học thuật Việt Nam.
- Tạo dựng cơ sở lý luận nền tảng để học giới tiếp cận các lý thuyết văn học đương đại có mối liên hệ mật thiết với tư tưởng Bakhtin như lý thuyết liên văn bản, tự sự học hậu hiện đại, lý thuyết trò chơi, và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
- Đề xuất các giải pháp mang tính phương pháp luận nhằm nâng cao tính chuẩn xác, tránh sự suy diễn máy móc hoặc mô phỏng sống sượng khi ứng dụng các khái niệm thi pháp học của Bakhtin vào việc phân tích các hiện tượng văn học cụ thể ở Việt Nam.
- Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy các học phần chuyên ngành ở bậc đại học và sau đại học như: Mỹ học đại cương, Thi pháp học, Tác phẩm và thể loại văn học, Xã hội học văn học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên các nội dung được văn bản đề cập và phạm vi nghiên cứu thực tế:
- Hạn chế:
- Luận án tập trung khảo sát việc tiếp nhận tư tưởng Bakhtin chủ yếu trong phạm vi ngành nghiên cứu văn học và thi pháp học, chưa thể mở rộng khảo sát sang các ngành nghệ thuật khác (sân khấu, điện ảnh, nghệ thuật thị giác) hoặc các phân ngành khoa học xã hội khác (tâm lý trị liệu, giáo dục học, nữ quyền luận) như thực tiễn học thuật quốc tế đã thực hiện.
- Do khối lượng bài viết và công trình ứng dụng thuật ngữ Bakhtin trong gần 40 năm qua tại Việt Nam là rất lớn, luận án chỉ tập trung khảo sát các công trình tiêu biểu, có tính định hình khuynh hướng, chưa thể bao quát tuyệt đối tất cả các tài liệu có nhắc đến tên tuổi Bakhtin.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang hướng tiếp cận liên ngành: khảo sát sự ảnh hưởng của nguyên lý carnaval và nguyên lý đối thoại trong nghiên cứu sân khấu, điện ảnh và văn hóa đại chúng tại Việt Nam.
- Tiếp tục theo dõi và nghiên cứu các văn bản lý thuyết khác của Bakhtin khi được dịch thuật đầy đủ hơn trong tương lai (như các phần còn lại của Hướng tới triết học hành động, các tiểu luận về thời - không gian nghệ thuật).
Giá trị tham khảo
Công trình là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Lý luận văn học: Phần tổng hợp lý thuyết tại Chương 2 và Chương 3 là tài liệu chuẩn xác để nắm bắt hệ thống khái niệm của Bakhtin (carnaval hóa, nghịch dị, đa thanh, đối thoại, thể loại lời nói, thời - không gian nghệ thuật).
- Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Phần tổng quan tình hình nghiên cứu (Chương 1) và thực tiễn ứng dụng (Chương 4) cung cấp bức tranh tư liệu toàn diện, hỗ trợ trực tiếp cho việc biên soạn bài giảng các môn học Thi pháp học, Lý luận văn học, Mỹ học, Văn học so sánh, đồng thời định hướng phương pháp luận nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc độ diễn ngôn và văn hóa học.
- Các nhà nghiên cứu tiếp nhận lý thuyết: Cung cấp mô hình khảo cứu thực chứng về sự du hành và bản địa hóa của một học thuyết phương Tây vào môi trường học thuật Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giải quyết vấn đề tranh luận tác quyền giữa Bakhtin, Voloshinov và Medvedev như thế nào?
Tác giả luận án không đồng tình với quan điểm tôn sùng cực đoan (coi toàn bộ tác phẩm đứng tên Voloshinov và Medvedev đều là của Bakhtin) lẫn quan điểm phủ định cực đoan của Bronckart, Bota và Ngô Tự Lập (coi Bakhtin là kẻ đạo văn, lừa dối). Luận án xác định lập trường: văn bản đứng tên ai thì về mặt văn bản học thuộc về người đó (không gộp Chủ nghĩa Freud, Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ, Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học vào danh mục của Bakhtin), song khẳng định nguyên lý đối thoại là thành tựu tư tưởng chung của cả nhóm, trong đó Bakhtin là người phát triển sâu sắc và bền vững nhất trên địa hạt thi pháp học.
2. Công trình đầu tiên của M. Bakhtin được dịch sang tiếng Việt là công trình nào, vào năm nào?
Công trình đầu tiên của Bakhtin được dịch ra tiếng Việt là tiểu luận “Một số khía cạnh phương pháp luận cần lưu ý khi nghiên cứu văn học quá khứ”, do dịch giả Vương Trí Nhàn chuyển ngữ, đăng trên Tạp chí Văn học số tháng 4 năm 1980 (sau đó được in lại trong cuốn Các vấn đề của khoa học văn học, Viện Văn học, năm 1990).
3. Theo phân tích của luận án, tiếng cười trào tiếu trong nguyên lý carnaval của Bakhtin gồm những đặc trưng cơ bản nào?
Tiếng cười trào tiếu dân gian trong hệ thống lý thuyết của Bakhtin gồm ba đặc trưng cơ bản:
- Tính toàn dân: Tiếng cười thuộc về tất cả mọi người, không phân biệt người biểu diễn và khán giả; mọi người đều sống trong không gian lễ hội.
- Tính phổ quát: Tiếng cười hướng vào toàn bộ thế giới, không loại trừ bất kỳ đối tượng nào, chủ thể cười cả thế giới và cười chính bản thân mình.
- Tính nhị chức năng: Tiếng cười không mang tính phủ định một chiều mà vừa hoan hỉ vừa chế giễu, vừa phủ định vừa khẳng định, vừa khai tử vừa tái sinh đối tượng.
4. Khái niệm "chân trời chờ đợi" được luận án vận dụng như thế nào để giải thích sự tiếp nhận Bakhtin tại Việt Nam?
Khái niệm "chân trời chờ đợi" (horizon of expectations) của H. R. Jauss được tác giả sử dụng nhằm giải thích sự hòa trộn giữa nhu cầu nội sinh của nền nghiên cứu văn học Việt Nam sau năm 1986 (nhu cầu thoát khỏi tư duy phản ánh cơ học, tìm kiếm công cụ phân tích mới) với khả năng đáp ứng của lý thuyết Bakhtin. Sự thay đổi chân trời bên ngoài (bối cảnh chính trị, xã hội, Đổi mới) đã thúc đẩy sự chuyển dịch chân trời bên trong của văn học, tạo điều kiện cho các quan niệm về đối thoại và carnaval nhanh chóng được tiếp nhận và định chế hóa.
Kết luận
Luận án Thi pháp học của M. Bakhtin và sự phát triển thi pháp học ở Việt Nam của Phan Trọng Hoàng Linh là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tổng kết một cách có hệ thống tiến trình bốn mươi năm du nhập và vận dụng di sản học thuật của Bakhtin tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết tiếp nhận, lý thuyết du hành với các phương pháp nghiên cứu lịch sử - văn hóa và so sánh, luận án đã làm sáng tỏ cấu trúc thi pháp học Bakhtin cũng như vai trò của học thuyết này trong việc đổi mới tư duy nghiên cứu văn học nước nhà từ sau năm 1986. Công trình không chỉ xác lập một cái nhìn khách quan về lịch sử học thuật và vấn đề tác quyền phức tạp của nhóm Bakhtin, mà còn cung cấp hệ thống tư liệu và bài học phương pháp luận giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận văn học hiện nay.