Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO 1. Khái niệm và các đặc điểm thi hành các hình phạt không tước tự do 1. Khái niệm thi hành các hình phạt không tước tự do Điều 106 Hiến pháp 2013 nước ta khẳng định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơquan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”[22]. Yêu cầu mang tính nguyên tắc hiến định này đã khẳng định hiệu lực thi hành của các phán quyết của Toà án khi có hiệu lực pháp luật, đồng thời khẳng định ý nghĩa quan trọng của công tác thi hành án nói chung và thi hành án hình sự nói riêng.
Thi hành án hình sự là một dạng hoạt động của Nhà nước, nhằm thực hiện quyền lực Nhà nước, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án ra thi hành trên thực tế. Đảm bảo thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là Tòa án, và là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm hại. Bên cạnh đó, thi hành án hình sự còn nhằm cải tạo, giáo dục người bị kết án để họ không phạm tội mới và trở thành người có ích cho xã hội, nhằm mục đích phòng ngừa riêng; giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm nói chung, động viên, khuyến khích sự tham gia của xã hội và công dân vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Thi hành án hình sự được tiến hành theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.
Toàn bộ quá trình thi hành các bản án, quyết định và 6 các quan hệ liên quan đến việc thi hành được quy định cụ thể, rõ ràng. Đây là giai đoạn cuối cùng trong các hoạt động tố tụng của các cơ quan thực thi pháp luật và cũng là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, trong đó buộc người bị xử phạt phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã quyết định. Bản án, quyết định của Toà án có được thi hành nghiêm chỉnh hay không là tuỳ thuộc chủ yếu vào giai đoạn này. Nếu mục đích của thi hành án không đạt được thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô nghĩa.
Hoạt động tố tụng trên chỉ có ý nghĩa trên thực tế khi các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành một cách nghiêm túc, kịp thời và có hiệu quả. Một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường. Tuy có quan hệ chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng thi hành án hình sự vẫn là một hoạt động có tính đặc thù và có mục đích trực tiếp riêng biệt. Nếu tất cả các hoạt động tố tụng dừng lại ở việc phán quyết của Tòa án, thì thi hành án lại được triển khai bắt đầu từ khi phán quyết có hiệu lực thi hành và nhằm thực hiện các nội dung trong phán quyết đó.
Nhiệm vụ của giai đoạn này là không chỉ trừng trị người có tội mà còn giáo dục, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Ngoài ra cũng nhằm tới mục đích giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Thi hành án hình sự là giai đoạn thể hiện rõ nét chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Căn cứ và nội dung của thi hành án chính là các nội dung cụ thể trong các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Đây là điểm thể hiện rõ nhất tính tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước của thi hành án [12,tr. Nội dung thi hành án hình sự rất rộng, bao gồm chế độ, thủ tục, tổ chức thi hành án, áp dụng các biện pháp hành chính, giáo dục, y tế, văn hóa – xã hội và thực hiện chế độ chính sách đối với người bị kết án. Các quan hệ 7 xã hội cụ thể phát sinh trong quá trình thi hành và chấp hành hình phạt như việc đưa bản án ra thi hành, chỉ định cơ quan tổ chức thi hành, tổ chức lực lượng, cơ sở vật chất đảm bảo cho việc thi hành án, quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án, quy định về quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án, nghĩa vụ của các cơ quan khác… Thi hành án hình sự còn là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành để thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án, mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm liên quan đến việc thi hành án. Các cơ quan, tổ chức, công dân trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả.
Tính chấp hành trong thi hành án phản ánh một thực tế nó không phải là hoạt động tố tụng thuần túy. Trong quá trình thi hành, các cơ quan thi hành án tác động trực tiếp tới đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do họ gây ra nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa họ phạm tội mới. Thi hành các hình phạt không tước tự do: Từ định nghĩa khoa học về hình phạt trong luật hình sự có thể nói: Hình phạt không tước tự do là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất về hình sự của Nhà nước do Toà án quyết định trong bản án có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội mà không buộc họ phải cách ly ra khỏi môi trường xã hội bình thường. Các dấu hiệu cơ bản của hình phạt không tước tự do - Người bị kết án không bị cách ly khỏi môi trường sống bình thường.
- Tính chất cưỡng chế của hình phạt không tước tự do thấp hơn hình phạt tù. 8 - Việc thi hành các hình phạt không tước tự do được thực hiện bởi nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau. - Điều kiện áp dụng và các hậu quả pháp lý phát sinh từ các hình phạt không tước tự do được quy định khá chặt chẽ. - Việc thi hành các hình phạt không tước tự do phát huy cao độ vai trò của cộng đồng trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội.[14] Các hình phạt nói chung và các hình phạt chính không tước tự do nói riêng có vai trò quan trọng không chỉ bảo đảm nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt mà còn thể hiện được rõ chính sách nhân đạo của Luật Hình sự.
Khi áp dụng hình phạt không tước tự do đối với người phạm tội sẽ hạn chế được những tác động tiêu cực của hình phạt lên người phạm tội cũng như gia đình của người phạm tội, tạo điều kiện người phạm tội được tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt. Hoạt động thi hành án hình sự đối với các hình phạt không tước tự do bên cạnh những đặc điểm chung còn có những đặc thù riêng biệt. Sự khác biệt này xuất phát từ đặc thù của từng loại hình phạt và mục đích, đối tượng áp dụng. Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội, họ được cải tạo, giáo dục, hoạt động như các công dân bình thường khác.
Tuy nhiên, họ vẫn phải chịu sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi họ làm việc hoặc sinh sống. Hiện nay còn có các quan điểm khác nhau về bản chất của thi hành án hình sự nói chung, thi hành các hình phạt không tước tự do nói riêng. Có quan điểm cho rằng thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử [5]. Có người cho rằng, thi hành các hình phạt không tước tự do là một giai đoạn của quá trình tố tụng và do vậy, được điều chỉnh bằng các quy phạm của luật tố tụng hình sự.
Song cũng có ý kiến cho rằng, thi hành các hình phạt không tước tự do là một hoạt động hành chính - tư pháp hình sự, có những nét đặc 9 thù riêng khác với hoạt động tố tụng hình sự. Một số khác thì coi thi hành các hình phạt không tước tự do như là luật hình sự kéo dài. Việc xác định thi hành các hình phạt không tước tự do là một giai đoạn tố tụng, luật hình sự kéo dài hay là hoạt động hành chính - tư pháp có ý nghĩa quan trọng để làm sáng tỏ bản chất thi hành án hình sự nói chung và thi hành các hình phạt không tước tự do nói riêng. Xác định đúng bản chất thi hành các hình phạt không tước tự do có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện, đặc biệt là tạo ra cơ chế quản lý, mô hình tổ chức và hoạt động phù hợp nhằm bảo đảm thi hành các hình phạt không tước tự do đạt hiệu quả cao.
Như vậy, có thể nêu một cách khái quát định nghĩa về khái niệm thi hành các hình phạt không tước tự do như sau: Thi hành các hình phạt không tước tự do là hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật buộc người chấp hành các hình phạt không tước tự do phải tuân thủ, chấp hành các hình phạt mà Tòa án đã tuyên án đối với họ tại phiên tòa, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do họ gây ra nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa họ phạm tội mới, cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội. Đặc điểm thi hành các hình phạt không tước tự do. Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật hình sự 2015, các hình phạt chính không tước tự do bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất. Hình phạt tiền do cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo cơ chế riêng.