Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NHÂN TRẮC HỌC. Trong quá trình phát triển loài người ở thời kỳ sơ khai đồ đá, con người đã có khái niệm đầu tiên về giải phẫu, qua các hình vẽ người và thú trên vách đá Sau đó là các khái niệm về hình thái và thể lực, cơ thể, thể chất, qua việc cân trọng lượng và đo chiều cao cơ thể. lịch sử môn Nhân trắc học cũng ra đời từ đó.
Trong giai đoạn sơ khai, cơ sở và nguyên lý của môn học này còn rất thô sơ, chưa có sự thống nhất về tiêu chuẩn, phương pháp đánh giá và chưa trở thành một ngành khoa học thực sự. Năm 1473, Ellenbog là người đã nhận diện vấn đề của Nhân trắc học từ hoạt động của chiếc máy kéo, đến đầu thế kỷ XX Nhân trắc học mới thực sự trở thành một ngành khoa học, khi Fisher– một nhà di truyền học quần thể đã nghiên cứu và xây dựng được môn thống kê toán học ứng dụng trong sinh học, từ đó việc nghiên cứu nhân trắc đã phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Ngày nay, nhân trắc học là một môn khoa học sử dụng các phương pháp toán học thống kê để nhận định và phân tích sự đo đạc các kích thước của cơ thể người nhằm các mục đích như sau: + Vận dụng các qui luật phát triển hình thái của con người. + Vận dụng các qui luật để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỂ LỰC 1. Tình hình nghiên cứu thể lực trên thế giới. Việc nghiên cứu về thể lực, sức khỏe ở các nước phương tây, người đầu tiên có vai trò tiên phong trong lĩnh vực nhân trắc học là Rudolf Martin [54] - nhà nhân trắc học người Đức, tác giả cuốn sách “ Giáo trình về nhân trắc học” đã đề xuất một hệ thống dụng cụ đo đạc kích thước của con người cũng như việc 4 ứng dụng toán học vào y học. Các trường phái nhân trắc học tiếp sau đó đều dựa vào phương pháp Martin(1914) bổ sung và hoàn thiện về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn theo truyền thống khoa học từng nước.
Năm 1961 Nold và Valsuki [55] đã tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường sống, hoàn cảnh địa lý đến sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể.Valdervael - một thầy thuốc người Bỉ - viết quyển sách về Nhân trắc học, đã nghiên cứu các quy luật phát triển theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp và đặc biệt có các giá trị trung bình cộng và độ lệch chuẩn [56]. Mặc dù lúc đầu các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều thông số hình thái như: cân nặng, chiều cao đứng, chiều cao ngồi, chiều rộng vai, vòng mông, vòng đùi, vòng cánh tay, chiều cao đầu, vòng đầu.có sử dụng toán học để phân tích kết quả đo đạc [54], [56]. Từ đó, các quy luật về phát triển hình thái người được hình thành, phục vụ cho việc giải quyết những yêu cầu thực tiễn của khoa học kỹ thuật, sản xuất và đời sống. Sau đó, các nhà khoa học biết tính đến các chỉ số nhân trắc, tập hợp những thông số như chỉ số Pinget, BMI, QVC, Skelie …gọi là phương pháp chỉ số.
Mặc dù có nhiều quan niệm, phương pháp khác nhau để đánh giá về các chỉ số nhân trắc, nhận xét tình hình thể lực sức khỏe của con người ở mọi lứa tuổi, nhưng mỗi phương pháp, quan điểm đều có ưu khuyết điểm riêng. Nên về sau các tác giả đã phối hợp nhiều phương pháp, nhiều chỉ số nhân trắc để đánh giá ngày càng chính xác hơn về thể lực con người. Các nhà nghiên cứu thường dựa vào các chỉ số cân nặng, chiều cao và đo các vòng cơ thể. Trọng lượng lý tưởng được tính theo công thức Lorentz(nhà vật lý học Hà lan) như sau: Cân nặng « nên có » (kg) = Cao(cm) – [100 +(chiều cao – 150)/4] 5 Đây là mối quan hệ giữa trọng lượng và chiều cao của con người.
Theo một số tác giả chiều cao một số dân tộc trên thế giới vào thập niên 1930 như sau [15][17]: + Anh: 173cm. + Thái Lan: 165cm (nam) và 155cm (nữ). + Trung Quốc: 164cm (nam) và 155cm (nữ). Tình hình nghiên cứu thể lực ở Việt nam.
Trong thập niên 30 đến 60, ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về nhân trắc học [2], [10], [15], [49], nhưng chưa được bao quát và đầy đủ. Công trình nghiên cứu về nhân trắc đầu tiên được thực hiện vào thập niên 30 tại Ban Nhân Học thuộc Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1942, Đỗ Xuân Hợp cộng tác với P.Huard xuất bản cuốn “Hình thái học và giải phẫu học mỹ thuật”.Năm 1967, Đỗ Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền tiến hành nghiên cứu trên 897 nữ sinh Hà Nội từ 5 đến 18 tuổi. Nhiều đối tượng ở hầu hết các lứa tuổi đã được nghiên cứu, bước đầu đã quy định một số thang phân loại thể lực người Việt Nam [15].
Trong thập niên 60 có hai hội nghị ở miền Bắc tổng kết về hằng số sinh học người Việt Nam và xuất bản quyển “Hằng số sinh học người Viêt Nam” (1965) do Nguyễn Tấn Gi Trọng [49] làm chủ biên, đã giúp ích rất nhiều trong việc tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về nhân trắc học sau này. Nhân trắc học phát triển mạnh vào những năm của thập niên 70, về sau ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cao trong lĩnh vực này như: - Năm 1974, Nguyễn Quang Quyền [37] nghiên cứu về nhân trắc học và ứng dụng trên người Việt Nam. 6 - Năm 1975, Nguyễn Tấn Gi Trọng, và cộng sự [49] đã nghiên cứu và công bố chính thức“Hằng số sinh học của người Việt Nam”. Sau khi đất nước giành độc lập, công tác chăm lo sức khỏe được Đảng và Nhà nước quan tâm đáng kể, việc nghiên cứu về nhân trắc đã phát triển mạnh với quy mô sâu rộng hơn.
Quyển “Atlat nhân trắc học Việt Nam trong lứa tuổi lao động”(1986) của Võ Hưng là chuẩn mực nhân trắc trong giai đoạn này [18]. Từ năm 1981 – 1985, Nguyễn Đức Hồng [14] đã nghiên cứu đặc điểm hình thái người Việt nam trong lứa tuổi lao động giai đoạn từ năm 1981- 1985.Năm 1989, Thẩm Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền và cộng sự [12] đã đưa ra “Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam từ 1- 55 tuổi” qua bảng sau: Bảng 1. Chiều cao đứng, chiều dài chi dưới , vòng ngực trung bình. Giới Tuổi Chiều cao Chiều cao Chiều dài chi VNTB đứng ngồi dưới 19 161,6 ± 5,28 87,14 ± 4,48 74,46 ± 3,93 76,85 ± 3,91 Nam 20 160,88 ± 7,35 87,11 ± 5,24 73,77 ± 3,85 78,29 ± 3,87 21 162,72 ± 4,96 88,9 ± 3,18 73,82 ± 4,41 79,36 ± 4,43 19 153,19 ± 4,92 82,96 ± 4,08 70,33 ± 3,45 79,04 ± 4,63 Nữ 20 153,28 ± 4,95 82,94 ± 4,09 70,13 ± 3,86 79,56 ± 4,9 21 152,42 ± 5,41 82,43 ± 4,63 69,99 ± 4,28 79,27 ± 4,22 Năm 1991 Bộ Y Tế giao cho Đại Học Y Khoa Hà Nội chương trình “ Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam tại Hà Nội” tuy nhiên do gặp khó khăn về tài chính nên việc triển khai bị hạn chế.
Đến năm 1994 chương trình được chuyển thành một dự án trong chương trình: 7 “ Điều tra cơ bản các chỉ tiêu sinh học người Việt Nam thập niên 90”. Năm 1997 hội nghị về các chỉ tiêu sinh học người Việt Nam [6] đã tập hợp được gần 100 báo cáo nghiên cứu về các chỉ tiêu sinh học được thực hiện từ sau năm 1975, nhưng chủ yếu chỉ có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: - Nguyễn Thị Đoàn Hương và cộng sự (1979), đã nghiên cứu một số đặc điểm về thể lực của sinh viên ở TP. - Năm 1992, Trịnh Văn Minh và cộng sự [33] “Góp phần nghiên cứu các chỉ tiêu nhân trắc người Việt Nam bình thường – kết quả điều tra tại xã Liên Ninh” đưa ra các kết quả sau: Bảng 1. Cân nặng, chiều cao, vòng ngực tại xã Liên Ninh, Hà Nội.
(Trịnh Văn Minh)[33] Giới Tuổi Cân nặng Cao đứng Cao ngồi VNHHS 19 47,05 ± 4,78 159,94 ± 4,09 82,01 ± 3,14 77,37 ± 4,81 Nam 20 48,88 ± 3,45 161,19 ± 5,57 82,85 ± 3,23 78,24 ± 5,98 21 50,05 ± 5,76 161,81 ± 4,73 83,83 ± 3,09 80,11 ± 4,57 19 46,43 ± 4,24 152,82 ± 3,92 79,21 ± 2,9 72,32 ± 3,66 Nữ 20 47,44 ± 4,18 153,82 ± 3,51 80,07 ± 2,71 72,56 ± 4,64 21 44,16 ± 2,8 144,29 ± 4,66 78,71 ± 2,03 72,56 ± 4,64 Đến năm 1994, Trịnh Văn Minh, Trần Sinh Vương và cộng sự [34] đã nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc để đánh giá thể lực, dinh đưỡng và sự tăng trưởng của người Việt Nam bình thường ở Thượng Đình và Định Công (Hà Nội) cho kết quả: 8 Bảng 1. Cân nặng, chiều cao,vòng ngực theo giới ở Thượng Đình và Định Công (Hà Nội) [34]. Giới Tuổi Cân nặng Cao đứng VNHV VNTB 19 51 ± 5,9 163,23 ± 4,82 80,04 ± 4,03 74,46 ± 3,99 Nam 20 50 ± 6,3 162,15 ± 5,99 78,9 ± 3,41 74,4 ± 2,67 21 51,1 ± 4,6 165,94 ± 6,44 80,36 ± 2,66 76,5 ± 2,25 19 47,3 ± 5,5 155,95 ± 4,97 79,68 ± 7,19 77,23 ± 6,77 Nữ 20 43,72 ± 4,6 151,81 ± 4,85 78,63 ± 6,52 75,94 ± 6,08 21 43,9 ± 5,57 152,87 ± 5,17 76,7 ± 3,76 74,4 ± 3,89 Năm 1997, Nguyễn Quang Quyền và Lê Gia Vinh[38] đã nghiên cứu: “Bề dầy lớp mỡ dưới da của sinh viên Y khoa Hà Nội từ 16-25 tuổi” Gần đây nhất (1999) Lê Nam Trà và nhóm nghiên cứu [47] , đã thực hiện đề tài cấp nhà nước trong qui mô toàn quốc, đến năm 2002 đã công bố quyển Atlas“Kết quả bước đầu nghiên cứu 1 số hằng số sinh học người Việt nam”. Các quan điểm của Đảng và Nhà Nước trong công tác bảo vệ sức khỏe và tiêu chuẩn để đánh giá thể lực.1 Trong lĩnh vực nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều kiện cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, Bộ Y tế và Hội Chữ thập đỏ (1999) [8], đã ra Nghị quyết liên tịch về việc phối hợp thực hiện các định hướng chiến lược về chăm sóc sức khỏe nhân dân từ năm 2000 đến năm 2020.