Chương 1: Tổng quan tài liệu ~ Lược sử nghiên cứu cá ~ Điều kiện tự nhiên - kinh tế vùng nghiên cứu Chương 2: Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu ~ Đối tượng nghiên cứu - Thời gian nghiên cứu - Địa điểm nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và bàn luận - Thành phần loài cá ở khe suối, hồ thủy lợi, huyện Qué Sơn, tỉnh Quảng Nam. - Dac diém phân bó, đặc trưng đa dạng về thành phần loài cá và quan hệ về thành phần loài ở khe suối, hồ thủy lợi, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam với các khu hệ cá khác. ~ Tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở khe suối, hồ thủy. lợi, huyện Qué Son, tinh Quang Nam.
CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ 1. Vài nét về nghiên cứu cá trên thế giới Công trình nghiên cứu đầu tiên về ngư loại học có tính khoa học là cuốn lịch sử động vật của Aristote (382-322TCN), trong đó đã giới thiệu được 115 loài cá cùng với những dẫn liệu về sinh sản, di cư, nơi ở. Tuy nhiên đến thế kỷ 16 cùng với các khoa học tự nhiên khác ngư loại học mới phát triển với nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau: P.Belon (1518-1564, Pháp) đã giới thiệu được 110 loài cá, G.
Rondelt (1507-1557) giới thiệu được 197 loài cá Địa Trung Hải. Đặc biệt là C. Garneri (1516-1565) với gợi ý đặt tên hai chữ cho cá còn được sử dụng đến sau này. Thế kỷ 17, ngư loại học phát triển thành hệ thống với những dẫn liệu về thành phần loài, địa lý, phân bố và về khu hệ các loài cá, các vùng nước khác nhau, đại diện như P.Artedi (1705-1734, Thụy Điển) với 5 cuốn sách về cá nồi tiếng, C.
Linnaeus (1707- 1708, Thụy Điển) với cuốn “Hệ thống tự nhiên” đã đề ra cách gọi tên cá hai chữ và giới thiệu tới 2600 loài cá khác nhau. Valenciennes với cuốn sách về cá gồm 2l tập. Bên cạnh sự phát triển của các nghiên cứu về phân loại, thời kỳ này các nghiên cứu về sinh thái, sinh lý cá cũng bắt đầu được chú trọng và phát triển [59]. Thế kỷ 19-20 là giai đoạn phát triển nhanh và toàn diện của ngư loại học.
Về phân loại điển hình có: D. Josdan (1854-1931) giới thiệu khu hệ cá Bắc và Trung Mỹ. Boulenger (1851) với 15 tập sách giới thiệu các loài cá viện bảo tàng Anh gdm 6843 loai. Berg (1876-195, Liên Xô) với tập “Hệ thống ngư loại” nôi tiếng bao các nội dung về phân loại, phân bó, địa lý c.
Matsubara (Nhật) với cuốn “Hình thái và bảng tra cứu các loài cá”. Mayr(1953) đưa ra những lý thuyết phân loại học, phương pháp phân loại học, lịch sử phân loại học. Các nghiên cứu về phân loại học phát triển mạnh trên nhiều phạm vi, khu vực nghiên cứu, quy mô nghiên cứu khác nhau. Trong số đó, n ỗ i bật có nghiên cứu của Vương Dĩ Khang (1958, Trung Quốc) giới thiệu và phân loại các loài cá Trung Quốc.
Trong đó mô tả đặc điểm phân loại của 70 bộ, 239 họ, 679 giống. Cuốn sách này hiện nay vẫn được nhiều nhà phân loại học tham khảo. Năm 1971 hai giáo sư người Nga là T. Lindberg công bố công trình “Những khái niệm hiện đại về hệ thống tự nhiên của cá hiện sống”.
Hệ thống này được coi là hiện đại và có sơ sở khoa học vững chắc, được nhiều nhà ngư loại học Việt Nam và trên thế giới thừa nhận, sử dụng. Tuy nhiên hệ thông này gần đây thẻ hiện đôi chỗ chưa hợp lý, nó đã được nhiều nhà ngư loại học khác sửa đổi để hoàn chinh hơn [59,20]. Năm 1996, FAO và Fishbase được công bố, hệ thống này vừa có tính hợp lý khoa học, vừa phù hợp cho việc trao đổi tài liệu khoa học giữa các nước trên thế giới. Ở Việt Nam trong bộ sách “Động vật chí” xuất bản gần đây cũng sắp xếp theo hệ thống này.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phân loại học, thời kỳ này cũng là thời kỳ phát triển của nhanh chóng của các phân môn khác của ngư loại học như sinh thái học, sinh lý, phẫu, cỗ sinh vật học, phôi sinh học, di truyền chọn giống cá [59] 1. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam 'Việt Nam với vành đai khí hậu nhi:đới gió mùa, tiếp giáp thềm lục dia dài và rộng cùng hệ thống sông ngòi, ao hồ, đầm phá khá lớn mang tính đặc trưng của các hệ sinh thái nhiệt đới. Do vậy, khu hệ cá rất phong phú và được chú trọng nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu về cá do các nhà khoa học trong và ngoài nước thực hiện.
Việc nghiên cứu trải qua nhiều thời kỳ, gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Thời kỳ trước năm 1945, chủ yếu các công trình nghiên cứu đều do. các tác giả người nước ngoài như Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc. Phần lớn mẫu vật được lưu trữ ở bảo tàng tự nhiên Paris, Pháp [66] Công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt ở nước ta là của H.
Sauvage (1881) trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá Châu Á và mô tả một số loài mới ở Đông Dương”, gồm 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc nước ta. Những năm tiếp theo có những công bố về thành phần loài ở các thủy vực khác nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều tác giả: H. Vaillant đã thu thập 6 loài và mô tả 4 loài mới ở Lai Châu (1891), 5 loài mới ở sông Kỳ Cùng (1904); P. Chevey (1930, 1932,1935,1936,1937) “Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam", trong đó tác giả đã thông báo bắt được cá Chình Nhật (.4aguzlla japonica) ở sông Hồng.
Tirant đã mô tả 70 loài cá nước ngọt sông Hương, trong đó có 5 loài mới mà ông đã thu thập mẫu từ năm 1883. Đây là công trình nghiên cứu cá đầy đủ nhất về cá của thời kỳ này. Có thể nói giai đoạn này việc nghiên cứu cá nước ngọt ở nước ta chỉ mới dừng ở mô tả, thống kê thành phân loài, chưa nghiên cứu về nguồn lợi. Từ năm 1945, phần lớn các cuộc khảo sát, các công trình nghiên cứu đều được các tác giả Việt Nam thực hiện, tuy nhiên cũng có một thời gian dài từ 1945-1954 bị gián đoạn vì chiến tranh.
Sau 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, dưới sự phối hợp cộng tác của Trạm nghiên cứu thủy sản nước ngọt Đình Bảng thuộc Tổng cục Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), khoa Sinh học, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và trường Đại học Thủy sản, công tác nghiên cứu được tiến hành điều tra ở hầu hết các vùng sinh thái Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung bộ ở nhiều loại hình thủy vực khác nhau như sông, suối, hồ chứa, đầm, ao, ruộng,. Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về khu hệ cá thời kỳ này ở miền Bắc có: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958) nghiên cứu sơ bộ khu hệ cá sông Bôi gồm 44 loài; Dao Văn Tiến và Mai Đình Yên (1959) đã công bố dẫn liệu sơ bộ Ngư giới sông Ngòi Thia gồm 54 loài cá; Hoàng Đức Đạt (1964) với công trình: Sinh thái học một số loài cá sông Lô; Mai Đình Yên (1966) điều tra khu hệ cá sông Hồng với 92 loài và phân loài cá nước ngọt; Đoàn Lệ Hoa và Phạm Văn Doãn (1971) đã sơ bộ điều tra nguồn lợi cá sông Mã với 114 loài. Kuronuma (1961) đã tông hợp một danh lục cá ở Việt Nam gồm 139 loài; Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Túy Hoa (1972) đã đưa ra một danh sách cá nước ngọt đồng bằng sông Cửu Long gồm 93 loài. Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu được đầy mạnh về phía Nam.
Trong thời kì này, Đảng và Nhà nước ta coi trọng việc nghiên cứu và phát triển tiềm năng của các thủy vực nội địa. Từ năm 1975 đến 1995, nhiều công trình nghiên cứu về các hệ sinh thái cửa sông, vùng đầm ao nước ngọt được tập trung nhiều, nhằm đánh giá tính đa dang sinh học và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên tái tạo của thủy vực. Những nghiên cứu trong thời kì này đã thể hiện tính phong phú về nhiều mặt gắn liền với việc bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ môi trường và thực tiễn của nghề cá. Nhờ đó, những dẫn liệu về thành phần loài, đặc tính sinh học, sinh thái cũng như sự tác động của môi trường sống đến các quần thể cá không ngừng tăng lên và ngày càng hoàn thiện [23].
Năm 1978, Mai Đình Yên công bố "Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam", thống kê danh mục mô tả chỉ tiết, lập khóa định loại đặc điểm phân bồ và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá ở miền Bắc nước ta [60]. Đến năm 1992, Mai Đình Yên cùng với cộng sự công bố "Định loại các loài cá nước ngọt Nam bộ", mô tả, định loại 255 loài cá ở Nam bộ Việt Nam [64]. Năm 1993, Trương Thủ Khoa và Trần Thu Hương đã công bố "Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long" với 173 loài [65] Đây là các công trình tổng hợp đầy đủ nhất về hai khu hệ cá miền Bắc và miền Nam nước ta trong thời kì này. Từ năm 1995, nghiên cứu cá được quan tâm và chú trọng đặc biệt là ll các thủy vực miền Trung và Tây Nguyên được tập trung nghiên cứu, tiêu biểu: Võ Văn Phú (1995) "Góp phần đánh giá nguồn lợi thủy sản trong hệ sinh thái đầm phá nước lợ Thừa Thiên Huế" với 163 loài cá thuộc 95 giống, 60 họ và 17 bộ, trong đó có 23 loài cá kinh tế [24].
Nguyễn Hữu Dực (1995) "Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung Bộ Việt Nam" với 134 loài [11]. Kết quả điều tra khu hệ cá và đặc điểm sinh học một số loài cá có giá trị kinh tế ở Châu Trúc, Bình Định của Nguyễn 'Văn Hảo (1996) với 50 loài. Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá sông Krông Ana, Đắc Lắc của Vũ Trung Tạng, Nguyễn Thị Thu Hè (1997) [50]. Nguyễn Văn Hảo, Võ Văn Bình (1999) "Thành phần các loài cá ở Đầm Trà Ô và sự biển đổi của nó liên quan đến quá trình diễn thế của đằm" với 67 loài.
Nguyễn Thị Thu Hè (1999) "Thành phần loài cá sông suối Tây Nguyên" với 138 loài [15]; Võ Văn Phú, Nguyễn Trường Khoa (2000) "Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị" với 83 loài.