CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình bệnh SXHD trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình bệnh SXHD trên thế giới Theo WHO, trước năm 1970 chỉ có 9 quốc gia xảy ra các vụ dịch SXH nghiêm trọng nhưng đến nay hơn 100 quốc gia có bệnh lưu hành tại các khu vực châu Phi, châu Mỹ, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương của WHO. Các khu vực châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.
Theo số liệu chính thức từ các quốc gia thành viên: số ca nhiễm trên toàn châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương vượt quá 1,2 triệu người vào năm 2008 và trên 3 triệu người trong năm 2013 và gần đây số ca bệnh được báo cáo vẫn tiếp tục gia tăng. Trong năm 2015, chỉ tính riêng châu Mỹ đã có khoảng 2,35 triệu ca mắc, trong đó 10.200 trường hợp được chẩn đoán SXH nặng gây ra 1.181 tử vong, số lượng ca bệnh gia tăng không chỉ lây lan sang các khu vực mới mà còn do các vụ dịch đang xảy ra. Nguy cơ đe dọa bùng phát dịch bệnh SXH hiện cũng đang tồn tại ở châu Âu, khi sự lan truyền tại chỗ đã được báo cáo lần đầu tiên tại Pháp và Croatia trong năm 2010 và các ca bệnh nhập khẩu (imported cases) đã được phát hiện tại 3 nước châu Âu khác. Trong năm 2012, một đợt bùng phát bệnh SXH trên đảo Madeira của Bồ Đào Nha gây ra hơn 2.000 trường hợp và các trường hợp nhập khẩu đã được phát hiện ở lục địa Bồ Đào Nha và 10 quốc gia khác ở châu Âu.
Trong năm 2013, các trường hợp đã xảy ra tại Florida (Hoa Kỳ) và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. SXH tiếp tục ảnh hưởng đến một số nước Nam Mỹ, đặc biệt là Costa Rica, Honduras và Mexico. Ở châu Á, Singapore đã báo cáo e 4 về một sự gia tăng số mắc sau khi một sự biến mất trong nhiều năm và các vụ dịch cũng đã được báo cáo tại Lào. Trong năm 2014, các xu hướng cho thấy sự gia tăng ca bệnh ở Trung Quốc, quần đảo Cook, Fiji, Malaysia và Vanuatu với SXH type 3 (DEN 3) ảnh hưởng đến các quốc đảo Thái Bình Dương sau khi một sự biến mất trong hơn 10 năm.
SXH cũng được báo cáo tại Nhật Bản sau khi biến mất trong hơn 70 năm. Năm 2015 được đặc trưng bởi các vụ dịch SXH lớn trên toàn thế giới, với Philippines báo cáo hơn 169.000 ca mắc bệnh (tăng 59,5%) và Malaysia vượt quá 111.000 trường hợp nghi ngờ SXH (tăng 16%) so với cùng kỳ năm trước. Chỉ riêng ở Brazil báo cáo trên 1,5 triệu trường hợp vào năm 2015, xấp xỉ cao hơn 3 lần trong năm 2014. Cũng trong năm 2015, Delhi, Ấn Độ, ghi nhận vụ dịch tồi tệ nhất kể từ năm 2006 với hơn 15.000 trường hợp.
Quần đảo Hawaii ở bang Hawaii, Hoa Kỳ đã bị ảnh hưởng bởi một vụ dịch với 181 trường hợp được báo cáo trong năm 2015 và sự lây lan tiếp tục trong năm 2016. Quốc đảo Fiji ở Thái Bình Dương, Tonga và Polynesia thuộc Pháp tiếp tục ghi nhận số ca mắc. Ước tính có khoảng 500.000 người bị SXH nặng phải nhập viện mỗi năm, một tỷ lệ lớn trong số đó là trẻ em và khoảng 2,5% số người bị ảnh hưởng tử vong do căn bệnh này. Theo thông tin cập nhật 29/7/2016 của WHO về gánh nặng toàn cầu của SXH (global burden of dengue) thì tỷ lệ mắc bệnh SXH trên phạm vi toàn cầu đã gia tăng đáng kể trong vài thập kỷ gần đây.
Thống kê chưa đầy đủ của WHO gần đây cho thấy có khoảng 390 triệu ca nhiễm SXH mỗi năm (95% khoảng tin cậy: 284 – 528 triệu), trong đó 96 triệu (67 – 136 triệu) có biểu hiện về mặt lâm sàng với bất kỳ mức độ nghiêm trọng của bệnh. Ước tính 3,9 tỷ người trong 128 quốc gia có nguy cơ nhiễm virus SXH; gần 2,4 triệu ca mắc e 5 SXH hàng năm (trong các năm 2010, 2013 và 2015) được báo cáo từ các nước thành viên trong 3 khu vực của WHO. Tình hình bệnh SXHD ở Việt Nam Ở Việt Nam từ năm 1913 Gaide đã ghi nhận về sốt Dengue cổ điển tại miền Bắc và miền Trung, năm 1929 Boyé có viết về 1 vụ dịch sốt Dengue cổ điển năm 1927 ở miền Nam Việt Nam. Trong 10 năm gần đây, năm 2010 cả nước có số mắc cao nhất với 128.710 trường hợp mắc, 109 trường hợp tử vong, số mắc giảm dần qua các năm, năm 2014 là năm có số mắc thấp nhất trong giai đoạn 2010 – 2014 và trong vòng 10 năm từ 2005 – 2014 với 31.848 trường hợp mắc, 20 trường hợp tử vong.
Tính đến tuần thứ 46 năm 2015, cả nước đã ghi nhận 61.780 trường hợp mắc SXHD, 40 trường hợp tử vong. Số mắc/chết tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam và Nam Trung bộ. Tại Khu vực miền Trung tính đến ngày 15/11/2015, đã ghi nhận 13.917 trường hợp mắc và 5 trường hợp tử vong. Số mắc/chết tập trung chủ yếu ở các tỉnh Nam Trung bộ từ Đà Nẵng trở vào: Khánh Hòa 5.
Theo Bô ̣ Y tế (MOH), đế n đầu tháng 8 năm 2016 cả nước ghi nhận gầ n 50.000 ca mắ c tại 48 tỉnh/thành phố và 17 trường hơ ̣p tử vong. Trong đó khu vực Tây Nguyên ghi nhận 7.411 trường hợp mắc, 4 trường hợp tử vong. Tỷ lệ mắc/100.000 dân của khu vực này là 168,1/100.000 dân, cao hơn nhiều so với cả nước 48,2/100.000 dân; trong đó cao nhất là Kon Tum 291,3/100.000 dân, tiếp theo là Gia Lai 218,2/100.000 dân, Đắk Nông 197,3/100.000 dân và Đắk Lắk là 92,1/100. Ngoài ra, số ca mắc số t xuấ t huyế t tâ ̣p trung ở mô ̣t số e 6 tin̉ h Khánh Hòa, Bình Định, Phú Yên, Đà Nẵng, Đồng Tháp, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước và có chiề u hướng tiế p tu ̣c gia tăng và lan rộng.
Tình hình bệnh SXHD tại tỉnh Bình Định Tính đến ngày 17/12/2015, toàn tỉnh đã ghi nhận 2.308 trường hợp SXHD, tử vong 01 trường hợp tại khối 4, thị trấn Bồng Sơn. Ca bệnh được ghi nhận ở tất cả 11 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, phân bố theo địa phương: Quy Nhơn 655 ca, Phù Cát 298 ca, Vân Canh 276 ca, Hoài Nhơn 227 ca (chế t 01), Tây Sơn 184 ca, Phù Mỹ 206 ca, Vĩnh Thạnh 184 ca, Tuy Phước 119 ca, An Nhơn 107, Hoài Ân 48 và An Lão 04 ca. So với cùng kỳ năm 2014, số ca mắc tăng 1. Theo báo cáo của Sở Y tế Bình Định, năm 2015 toàn tỉnh ghi nhận được 2.650 ca mắc bệnh SXHD, trong đó có 1 ca tử vong ở huyện Hoài Nhơn.
Các trường hợp mắc bệnh ở tất cả 11 huyện, thị, thành phố trong tỉnh, trong đó các địa phương có ca mắc bệnh cao: thành phố Quy Nhơn 807 ca, huyện Phù Cát 272 ca, Vân Canh 299 ca, Hoài Nhơn 240 ca, Phù Mỹ 254 ca…, địa phương có số ca mắc ít nhất là huyện An Lão chỉ 3 trường hợp. Năm 2016, theo báo cáo của Sở Y tế Bình Định (tính đến ngày 28/12), toàn tỉnh ghi nhận 4.634 ca mắc bệnh SXHD. Ca bệnh được ghi nhận ở tất cả 11 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, phân bố theo địa phương: Quy Nhơn 979 ca, Vân Canh 94 ca, Vĩnh Thạnh 157 ca, An Nhơn 848, Tuy Phước 439 ca, Tây Sơn 539 ca, Phù Mỹ 572 ca, Phù Cát 474 ca, Hoài Nhơn 399 ca, Hoài Ân 128 và An Lão 06 ca. Trong đó có 2 ca tử vong gồm 1 ca ở huyện An Nhơn và 1 ca ở huyện Hoài Nhơn.
Như vậy, trong khi huyện vùng cao An Lão, nơi mà kiến thức người dân còn hạn chế về phòng chống SXH chỉ ghi nhận 6 ca, thì SXH lại bùng phát mạnh ở thành phố Quy Nhơn, với 979 ca, chiếm gần 1/4 số ca mắc bệnh toàn tỉnh. e 7 1000 979 900 848 807 800 700 600 572 539 500 474 439 398 400 299 300 272 254 241 212 192 200 147 146 157 124 128 98 79 94 100 70 35 28 14 31 2 10 0 6 3 7 0 Vĩnh Quy Nhơn An Nhơn Hoài Nhơn Tây Sơn Tuy Phước Phù Cát Phù Mỹ Hoài Ân Vân Canh An Lão Thạnh 2016 979 848 398 539 439 474 572 128 94 157 6 2015 807 147 241 212 146 272 254 79 299 192 3 2014 124 2 35 70 10 28 98 0 14 31 7 Biểu đồ 1. Số ca mắc SXHD tại các huyện, thành phố của tỉnh Bình Định qua các năm 2014, 2015 và 2016 (Số liệu theo Báo cáo của Sở Y tế Bình Định tính đến hết tuần 52 mỗi năm) e 8 600 500 400 300 200 100 0 Tháng Tháng Tháng Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 10 11 12 2016 516 120 70 68 44 16 15 14 21 29 40 29 2015 10 6 13 19 40 29 13 32 53 73 180 370 Biểu đồ 1. Số ca mắc SXHD theo tháng tại thành phố Quy Nhơn năm 2015 và 2016 (Số liệu theo Báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bình Định) e 9 1.
Một số đặc điểm sinh học của muỗi Aedes 1. Vị trí trong hệ thống phân loại Muỗi SXHD ở Việt Nam có 2 loài Ae. aegypti Linnaeus, 1762 và Ae. albopictus Skuse, 1894 thuộc giống Aedes, họ phụ Culicinae, họ Culicidae (muỗi), bộ phụ Nematocera (râu dài), bộ Diptera (hai cánh), lớp Insecta (côn trùng), ngành Arthropoda (chân khớp), giới động vật (Animalia).
Giới Animalia Linnaeus, 1758 (Giới động vật) Động vật là một nhóm sinh vật đa bào, nhân chuẩn, trong hệ thống phân loại 5 giới, động vật sống dị dưỡng, không có thành tế bào cứng. Tất cả động vật có thể di chuyển, ít nhất là trong một giai đoạn sống. Ở hầu hết động vật, phôi trải qua giai đoạn phôi nang, một giai đoạn riêng biệt đặc trưng ở động vật. Ngành Arthropoda Von Siebold, 1848 (Ngành chân khớp) Ngành Arthropoda gồm những loài có cơ thể và phần phụ phân đốt, có lớp kitin bọc quanh cơ thể, hệ tuần hoàn hở, thở bằng mang hoặc ống khí (khí quản).
Đầu có mang 1 cơ quan cảm giác hình thon dài gồm nhiều đốt mọc phía trong hai mắt gọi là râu, có loài không có râu. Lớp Insecta Linnaeus, 1758 (Lớp côn trùng) Lớp Insecta thở bằng khí quản, có râu, có 3 đôi chân ở thể trưởng thành. Cơ thể chia thành 3 phần: đầu, ngực và bụng. Bộ Diptera Linnaeus, 1758 (Bộ hai cánh) Chỉ có đôi cánh trước phát triển, dạng cánh mỏng, đôi cánh sau biến đổi thành 2 mấu giữ thăng bằng và định hướng khi bay.
Cơ quan miệng kiểu chích hút (muỗi) hoặc kiểu liếm (ruồi).