Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm hình thái của loài C. podophylla là loài dương xỉ được chúng tôi thu thập tại vườn quốc gia Tam Đảo, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Loài dương xỉ này được xác định danh pháp bởi bởi TS. Đỗ Thị Xuyến tại trường đại học Khoa học Tự Nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội và bảo tàng thiên nhiên Việt Nam – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Việc xác định tên loài được dựa trên phương pháp hình thái so sánh, mặc dù đây là phương pháp cổ điển nhưng nó vẫn là phương pháp hiệu quả và phổ biến trên thế giới lại phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Đây là loài có nguồn gốc từ ngành dương xỉ (Polypodiophyta), lớp Ráng Đa Túc (Polypodiopsida), bộ Dương Xỉ Mộc (Cyatheales), họ Dương Xỉ Mộc (Cyatheaceae), chi Cyathea. Về đặc điểm phân loại chi Cyathea: - Dạng sống: Cây thân dạng cột, có thể cao tới 20 m hay hơn nhưng chủ yếu gặp độ cao khoảng 3-7 m; thân thẳng, không phân nhánh, thường mang nhiều cuống lá tồn tại sau khi lá rụng nên nhìn từ xa như tạo thành các "vảy" lớn, trên thân còn có các vảy mỏng màu nâu hay đen. - Lá: Lá đơn, mọc cách, tập trung ở đỉnh của thân, chúng mọc xít lại với nhau nên tạo thành dạng lá mọc vòng.
Kích thước lá rất lớn, xẻ thùy lông chim 2 hoặc 3 lần. Thùy lá chét con nguyên hoặc xẻ thùy; gân bên thùy lá chét con có thể chia đôi hay nguyên; trên có gân chính của lá chét con có thể có lông hay có vảy dạng thịt hay không. Cuống lá và sống lá biến đổi từ màu vàng như rơm, màu xanh lá cây, nâu đến đỏ hoặc đen, nhẵn đến có nốt sần hoặc gai, nhiều loài có bao phủ chất dạng sáp như ong. - Ổ túi bào tử: Túi bào tử thường tập trung thành ổ ở mặt dưới lá, gần với gân chính của lá chét con; ổ túi bào tử có vỏ bao bọc được gọi là áo túi.
Áo túi có thể có hay không có áo túi, áo túi có thể bào bọc hoàn toàn cả ổ túi hay chỉ bao lấy một phần (A. spinulosa); hình dạng như hình cầu, mở lỗ ở đỉnh khi già tạo thành hình chén lõm; mỗi ổ túi có nhiều túi bào tử. Một số kiểu lá gân phụ lá chét con và túi bào tử của chi Cyathea - Túi bào tử và bào tử: Túi bào tử hình cầu, có cuống dài; vách túi bào tử mỏng, chỉ còn 1 lớp tế bào, có vòng cơ chuyên hóa để mở túi, vòng cơ thuộc loại vòng cơ hoàn toàn, thường xiên. Bào tử giống nhau (chỉ gồm một loại bào tử), hình dạng thay đổi tùy loài từ hình cầu hoặc có ba cạnh, nàu nâu sáng, có ba rãnh.
Nguyên tản lưỡng tính. Trên thế giới có khoảng 230 loài, phân bố khắp miền nhiệt đới, đôi khi có thể mở rộng vào vùng ôn đới, trong các khu rừng ẩm ướt trên sườn núi hoặc trong khe núi. Khoảng 20 loài có ở Châu Á, ở Việt Nam có 7 loài, mọc rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh. Hình dạng lá của chi Cyathea (loài C.
podophylla) Phương pháp hình thái so sánh này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài của các cơ quan thực vật và dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây trưởng thành, ổ túi bào tử so sánh với ổ túi bào tử, bào tử so sánh với bào tử,. Điểm quan 5 trọng ở phương pháp hình thái này, đó là sự quan sát các cơ quan bên ngoài sẽ tập trung nhiều vào cơ quan sinh sản do chúng liên quan mật thiết tới bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường. Bên cạnh đó, các túi bao tử nằm trên mặt sau của lá cũng được chú trọng và bảo quản trong lúc tiến hành sử dụng phương pháp. Dựa trên nguyên tắc của phương pháp và kết quả định danh loài của bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, đặc điểm hình thái của loài C.
podophylla sẽ mang những đặc điểm đặc trưng của chi Cyathea: Cây có dạng thân cột, cao 1,5 - 3m hiếm khi hơn, đường kính 20-25 cm, thân xốp do có nhiều rễ bao phủ. Lá đơn, mọc cách, tập trung ở đỉnh thân, xòe rộng đều đặn nên tạo thành dạng gần như lá mọc vòng; dài khoảng 1,5 - 3m; kép lông chim dài 2-3 lần; cuống dài khoảng 50-60 cm hoặc đôi khi hơn, màu đỏ tía-sẫm, bóng, gốc cuống có chất sáp như sáp ong, không có gai, có vảy; vảy kích thước 25-50 x 2,5 mm, màu nâu, cứng, bóng; lá chét con kích thước lớn 12-15 x 1-2 cm; có lông ở mặt dưới; khi non gần như nguyên, khi già có thùy nhưng rất nông, mép có răng cưa ở phần chóp; gân bên thùy lá chét con ở phía dưới hợp nhau thành các mạng kín, ở phía trên thường chia đôi, gân có lông. Ổ túi bào tử ở gần gân giữa, trên các gân phụ của thùy lá chét con; không có áo túi bao bọc. Bào tử dạng hình cầu có 3 cạnh, màu vàng sẫm.
podophylla tại vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Về sinh học và sinh thái: Cây trung sinh và ưa bóng, mọc phổ biến rải rác dưới tán rừng rậm thường xanh, nguyên sinh và thứ sinh cây lá rộng, rừng hỗn giao tre, nứa hay trong các tầng cây bụi rậm thường xanh thứ sinh. Đất nhiều khi còn tầng dày khá ẩm do nhiều loại đá mẹ khác nhau phong hóa ra, ở độ cao tới 1000m. Mùa ra bào tử tháng 4-10. 6 Về phân bố: Rộng, ở nhiều vùng đồi núi thấp của khắp cả nước.
Từ Lào Cai (gần thị trấn Sa Pa) đến Sơn La (Chiềng Ve), Yên Bái (Bảo Hà, núi Con Voi) Cao Bằng, Thái Nguyên (Đại Từ), Lạng Sơn, Quảng Ninh (Cẩm Phả, Uông Bí), Vĩnh Phúc (núi Tam Đảo), Hà Nội (núi Ba Vì), Hòa Bình (Mai Châu, Lương Sơn, Trường Sơn), Ninh Bình (Cúc Phương) qua Quảng Bình, Đà Nẵng (núi Bà Nà) đến Lâm Đồng (Lạc Dương, Cổng Trời, Đà Lạt) còn gặp ở Trung và Nam Trung Quốc, Lào, Campuchia về Bắc đến Nhật và Đài Loan, về Tây đến Thái Lan. Về giá trị sử dụng: Ngọn non làm rau muối dưa. Thân cây dùng làm giá thể trồng Phong lan.2 Ứng dụng của C. podophylla trong y học và thành phần hóa học của chúng 1.1 Vai trò của C.
podophylla trong y học cổ truyền Trong y học cổ truyền, cây dương xỉ được sử dụng trong điều trị nhiễm trùng da do vi khuẩn, bệnh thận, bệnh trĩ, giãn tĩnh mạch, thậm chí cả bệnh tiểu đường và ung thư; chúng cũng đã được sử dụng trong các loại trà và thuốc đắp. Mặc dù được sử dụng rộng rãi từ thời cổ đại nhưng vẫn còn rất ít thông tin về các đặc tính, dược lý của chúng sử dụng trong y học cổ truyền. Do đó, các lớp chất có tác dụng đặc hiệu về đặc tính sinh học của chúng trong hầu hết các chiết xuất từ dương xỉ Cyathea đều đã được nghiên cứu. Từ thời Hy Lạp cổ đại, dương xỉ là một trong nhiều loại cây được sử dụng làm thuốc.
Vào thời Trung Cổ, các nhà sư được biết đến là những người thông thạo cây thuốc, họ đã trồng nhiều loại cây khác nhau và thử nghiệm chúng để tạo ra các phương thuốc chữa bệnh và lưu giữ tất cả kiến thức này trong những cuốn sách đầu tiên về thuốc thảo dược [9,10]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới về công dụng chữa bệnh của chi Cyathea đã cho thấy các tác động dược lý của chúng với một số triệu chứng hoặc một số bệnh liên quan tới nhiễm trùng. Tại các vùng của Bolivia và Ecuador, các nhóm người bản địa Tacana và Huaorani từ các dân tộc Amazon đã tận dụng 11 loài có lợi cho Bolivia và 14 loài có lợi cho Ecuador trong tổng số 24 loài dương xỉ tại đây. Cyathea pungens là loài duy nhất được sử dụng ở cả hai nơi.
Alsophila cuspidata và Cyathea delgadii được họ tận dụng để điều trị mụn nhọt hoặc các viêm nhiễm gây sưng tấy bằng cách bôi hoặc đắp trực tiếp phần chất nhầy lên vết thương. Cyathea spinulosa là một trong những loài dương xỉ được người dân bản địa, khách du lịch và người dân bộ lạc ở vùng đồi Satpura ở Madhya Pradesh sử dụng phổ biến để điều trị nhiều bệnh [11]. Dương xỉ có vai trò quan trọng trong các hệ thống y 7 học cổ truyền khác nhau như Unani, Ayurvedic và Siddha. Trong đó: Unani và Ayurveda là hai hệ thống y học cổ truyền nổi tiếng của Ấn Độ, Unani có nguồn gốc y học từ Greco-Ả Rập Tripura (một bang thuộc Ấn Độ) đã báo cáo thông tin từ khoảng 29 ngôi làng khác nhau [12].
Cyathea contaminas luôn là lựa chọn hàng đầu bởi các chuyên gia y học cổ truyền về đặc tính điều trị các loại bệnh liên quan tới nhiễm trùng. Ngoài ra, một số bộ phận của chúng cũng được tận dùng làm chất đông máu khi gặp các vết thương từ những vết cắn hoặc cắt. Người dân ở bộ lạc tại Madhya Pradesh đã sử dụng rất nhiều loài pteridophytes làm thuốc, chúng đã được Balendra và Ravi nghiên cứu [13]. Cyathea balakrishnanii và Cyathea spinulosa dùng trị bài tiết mồ hôi và tăng cường ham muốn, Cyathea gigantea làm giảm khí hư màu trắng và tăng chứng khó tiêu.
Charisse và Melanie đã nghiên cứu các cây thuốc truyền thống được sử dụng tại các bộ lạc Matigsalug sống ở quận Marilog, thành phố Davao, Philippines [14]. Tại đây, họ thấy rằng phần thân của Cyathea contaminans được người dân tận dụng làm thuốc để chữa các triệu chứng của viêm nhiếm dưới dạng bôi, đắp. Tại Ấn Độ, Shweta và Sahu [15] đã quan sát thấy 2 loài loài C. spinulosa được trồng tự nhiên ở Khu dự trữ sinh quyển Pachmarhi (MP).
Tại đây, hai loài này được sử dụng làm dược liệu truyền thống và thực phẩm. Bột khô của lá và thân C. spinulosa được dùng bằng đường uống để điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp. Vỏ và rễ mềm có thể ăn được và còn được dùng để chữa vết thương.
gigantea được dùng để chữa bệnh bạch huyết ở phụ nữ. Chiết xuất thân rễ cũng điều trị vết rắn cắn, nó được sử dụng tại chỗ trên vết cắt và mụn nhọt. Thân rễ có tác dụng chống ung thư, kháng virus và bảo vệ gan một cách tự nhiên. Bên cạnh đó, giá trị y học cổ truyền của 50 loài ở vùng đồi Palani tại Nam Ấn Độ đã được Sathiyaraj và cộng sự [16] nghiên cứu đến.
Các loài Pteridophyte được tận dụng để sử dụng làm dược liệu truyền thống tại đây giống như những nơi khác tại Ấn Độ.