ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những thập kỷ gần đây, con người dần có xu hướng sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thảo dược để phòng và điều trị bệnh vì đặc tính an toàn, ít gây tác dụng phụ và hiệu quả điều trị cao, do đó việc đi sâu vào nghiên cứu, tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao đang rất được quan tâm. Đặc biệt là Việt Nam, một quốc gia có hệ sinh thái vô cùng phong phú, đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc với 4000 loài cây thuốc, hơn 50 loài tảo biển, 75 loài khoáng vật và gần 410 động vật làm thuốc [7]. Sâm Việt Nam là một loài thảo dược quý hiếm, có nhiều tác dụng và là loại nhân sâm thứ 20 được tìm thấy trên thế giới, đây là loài đặc hữu của hệ thực vật Việt Nam, được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1973 tại vùng núi Ngọc Linh. Ngoài 26 hợp chất saponin tương tự sâm Mỹ và sâm Triều Tiên, trong sâm Ngọc Linh còn phát hiện được hơn 20 loại saponin khác như majonosid R1-2, vinaginsenosid R1-11 và các saponin khác thuộc nhóm glycosid, các saponin chính phải kể đến như majonosid-R2, ginsenosid-Rb1, ginsenosid-Rg1 và ginsenosid-Rd.
Những saponin quý này có tác dụng bồi bổ sức khỏe, tăng cường sinh lực, điều hòa huyết áp, chống oxy hóa, phòng chống ung thư, chống lão hóa, kích thích hệ miễn dịch, chống trầm cảm, giảm căng thẳng, gan, thận. Loài sâm quý và có giá trị kinh tế cao này thuộc danh mục sách đỏ cần được bảo tồn, mặc dù nhà nước đã có chủ trương bảo vệ nguồn cây thuốc quý này nhưng nguồn sâm tự nhiên vẫn bị khai thác lén lút, trái phép một cách nghiêm trọng, ảnh hưởng đến nguồn gen quý, có thể dẫn đến cạn kiệt, đồng thời tạo áp lực cho ngành dược liệu nước ta hiện nay. Hơn nữa, việc sử dụng các hợp chất từ sâm Việt Nam vào sản xuất dược phẩm vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn vì nguồn cung cấp cây sâm Việt Nam chỉ giới hạn ở vùng núi Ngọc Linh, và việc trồng trọt phải mất nhiều thời gian, thường từ 5–7 năm trước khi thu hoạch thân rễ và rễ vì thế sâm Việt Nam khó nuôi trồng và nhân rộng [8]. Đứng trước những thách thức đó, nuôi cấy rễ được xem là một giải pháp thay thế đầy tiềm năng để thu nhận hoạt chất thứ cấp từ loài sâm quý hiếm này, do khả năng sản xuất ổn định được một lượng lớn sinh khối sạch 1 Luan van trong thời gian ngắn.
Việc nghiên cứu thành phần hóa học của mẫu rễ nuôi cấy của sâm Việt Nam đem lại ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn cao. Hiện nay các kỹ thuật sắc ký được sử dụng rộng rãi, phổ biến dùng để tách, nhận biết, định lượng từng thành phần trong hỗn hợp và được ứng dụng trong các lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm, môi trường,… vì nhiều lý do như có độ nhạy cao, khả năng định lượng tốt, thích hợp tách các hợp chất khó bay hơi hoặc dễ phân hủy nhiệt [11]. Trên cơ sở đánh giá các thành phần hóa học có trong mẫu rễ được nuôi cấy của sâm Việt Nam trong phòng thí nghiệm, chúng tôi tiến hành đề tài “Bƣớc đầu nghiên cứu thành phần hóa học của mẫu rễ tóc nuôi cấy của Sâm Việt Nam” với 2 mục tiêu chính: 1. Phân tích các thành phần saponin chính của mẫu rễ tóc nuôi cấy của Sâm Việt Nam bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao.
Định lượng sơ bộ các thành phần saponin chính của mẫu rễ tóc nuôi cấy của Sâm Việt Nam bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao. Dựa trên những kết quả đó, bước đầu đưa ra được những kết luận sơ bộ về tiềm năng của phương pháp nuôi cấy mẫu rễ tóc của Sâm Việt Nam này trong tương lai. 2 Luan van CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về Sâm Việt Nam 1.
Lịch sử phát hiện và đặc điểm phân bố 1. Lich sử phát hiện Sâm Việt Nam được biết đến như một loại thuốc quý đặc hữu của nước ta, trước khi được phát hiện và công bố rộng rãi từ phía các nhà khoa học thì loại Sâm này đã được các đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng Trung bộ Việt Nam, đặc biệt là dân tộc Xê Đăng, sử dụng như một loại củ rừng, mà họ gọi là củ ngải rọm con hay cây thuốc giấu, chữa nhiều loại bệnh theo các phương thuốc cổ truyền. Dựa trên những thông tin được lưu truyền trong cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Nam, Kon Tum về loại củ quý hiếm ở trên núi Ngọc Linh có tác dụng tốt đối với sức khỏe con người vì thế các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu và tìm hiểu về loại cây này [6]. Năm 1973, khu Y tế Trung Trung bộ cử một tổ gồm 4 cán bộ do dược sĩ Đào Kim Long làm trưởng đoàn, kỹ sư Nguyễn Bá Hoạt, dược sĩ Nguyễn Châu Giang, dược sĩ Trần Thanh Dân là thành viên, đi điều tra phát hiện cây sâm theo hướng chân núi Ngọc Linh thuộc huyện Đắc Tô tỉnh Kon Tum.
Khi đoàn lên tỉnh Kon Tum, Ban Dân y Kon Tum cử thêm dược tá Nguyễn Thị Lê trợ giúp cho đoàn, dẫn đường lên núi Ngọc Linh. Sau nhiều ngày vượt suối băng rừng [6], đến 9 giờ sáng ngày 19 tháng 03 năm 1973, trên con đường đi từ làng Ku-gia theo sườn Đông Nam dãy Ngọc Linh ở độ cao 1.500 mét so với mặt biển, đoàn đã phát hiện hai cây Panax đầu tiên, một cây 9 tuổi, một cây 11 tuổi và ngay buổi chiều cùng ngày đã phát hiện được một vùng sâm rộng lớn thuộc phía Tây núi Ngọc Linh [5]. Sau 15 ngày nghiên cứu toàn diện về hình thái, sinh thái, quần thể, quần lạc, phân bố, di cư và phát tán, dược sĩ Đào Kim Long đã xác định núi Ngọc Linh là quê hương của cây sâm mới, đặc biệt quý hiếm, chưa từng xuất hiện tại bất cứ nơi nào khác trên thế giới và bổ sung cho chi Panax họ Araliaceae một loài mới [6]. 12 năm sau vào khoảng tháng 9 - 1985, tên Nhân sâm Việt Nam với tên khoa học là Panax vietnamesis Ha et Grushy, họ Ngũ gia bì Araliaceae, được công bố tại Viện Thực vật Kamarov (Liên Xô cũ) năm 1985, do Hà Thị Dung và I.
Grushvistky đặt tên sau khi đã nghiên cứu 50 mẫu vật đối chiếu với 3 Luan van những mẫu vật của thế giới và đã kết luận sâm Ngọc Linh là một loài mới, một loài Panax đặc hữu của khu hệ thực vật Việt Nam [5, 6]. Đặc điểm phân bố (A) (B) Hình 1. Nhân sâm Việt Nam (Vietnamese ginseng, Panax vietnamensis Ha and Grushv). Sơ lƣợc về nhân sâm Việt Nam và sự phân bố tự nhiên của nhân sâm Việt Nam ở Việt Nam (A).
Bản phác thảo màu sắc của nhân sâm Việt Nam (B) [30] Cây sâm được phát hiện mọc tự nhiên từ độ cao 1500m đến 2200m, đạt mật độ cao nhất ở khoảng từ 1.000m dưới tán rừng già, thuộc địa bàn của hai huyện Đăk Tô (tỉnh Kon Tum) và Trà My (tỉnh Quảng Nam) [4]. Sâm mọc tập trung dưới chân núi Ngọc Linh, một ngọn núi cao 2.598m với lớp đất vàng đỏ trên đá granit dày trên 50cm, có độ mùn cao, tơi xốp và rừng nguyên sinh còn rộng, nên được gọi là sâm Ngọc Linh vì thế ngoài tên riêng là Sâm Việt Nam ra loại cây này còn có tên thường gọi khác là Sâm Ngọc Linh [4, 6], tuy nhiên giới hạn phân bố của Sâm Việt Nam hiện nay đã có những thay đổi, những nghiên cứu thực địa mới nhất cho thấy sâm còn mọc cả ở núi Ngọc Lum Heo thuộc xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, đỉnh núi Ngọc Am thuộc Quảng Nam, Đắc Glây thuộc Kon Tum, núi Langbian ở Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng cũng rất có thể có loại sâm này [1, 6]. Thực vật học của Sâm Việt Nam Sâm Việt Nam với danh pháp khoa học là Panax vietnamensis Ha et Grushv, ngoài tên gọi chính thống là Sâm Việt Nam ra loài sâm này còn có những tên gọi khác như sâm Ngọc Linh, sâm Khu Năm (sâm K5), sâm trúc (sâm đốt trúc, trúc tiết nhân sâm), củ ngải rọm con, rơm con (Xê Đăng) hay cây thuốc giấu [1, 4-6], và có vị trí phân loại theo hệ thống phân loại thực vật như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Mộc lan (Magnoliophyta) Lớp: Mộc lan (Magnoliopsida) Bộ: Hoa tán (Apiales) Họ: Ngũ gia bì (Araliaceae) Chi: Sâm (Panax) Loài: Panax vietnamensis Ha et Grushv Hình 1. Hình ảnh cây sâm Việt Nam (P.
vietnamensis Ha & Grushv) (https://caythuoc.org/sam-ngoc-linh. Đặc điểm thực vật và sinh thái của Sâm Việt Nam 1. Đặc điểm thực vật Sâm Việt Nam là loài cây thân thảo, sống lâu năm, cao đến 1m. Thân rễ nạc, có đường kính từ 1,5 - 3,5 cm, mọc bò ngang như củ gừng, có nhiều đốt, không phân nhánh, dài 30 - 40 cm, có thể hơn, có nhiều vết sẹo do thân khí 5 Luan van sinh lụi hàng năm để lại, căn cứ vào các vết sẹo trên thân rễ, người ta tính được tuổi của các cây sâm, mặt ngoài thân rễ màu nâu nhạt, ruột trắng ngà, phần cuối thân rễ ở một số cây đôi khi có củ gần hình cầu, đường kính đến 5 cm [4, 5, 15].
Đốt trên cùng của thân rễ tồn tại 1 - 4 thân. Thân khí sinh mảnh, mọc thẳng đứng, nhẵn, cao 40 - 80 cm, rỗng, có 3 mặt hơi tròn có những rãnh nhỏ theo chiều dọc [4-6, 15]. Trên đỉnh của thân mang lá là lá kép hình chân vịt, mọc vòng thường có 4 (hiếm khi 3,5 hoặc 6), ở ngọn, mỗi lá kép gồm 5 lá chét (ít khi có 6,7), lá dài 7 - 12 cm; lá chét trên cùng hình trứng ngược hoặc hình mũi mác, dài 8 - 14 cm, rộng 3 - 5 cm, đầu lá thường nhọn đột ngột, mũi nhọn kéo 1,5 – 2 cm, góc lá hình nêm, mép lá có răng cưa nhỏ đều, gân bên ở mặt trên của lá chét có nhiều lông cứng dạng gai dài đến 3 mm, mặt dưới ít hơn [4, 5, 15]. Hình ảnh lá và quả của sâm Việt Nam (https://caythuoc.org/sam-ngoc-linh.html) Cụm hoa dài 25 cm, gấp 1,5 - 2 lần chiều dài của cuống lá, thường mang một tán đơn, đôi khi có thêm 1 - 4 tán phụ [4, 5].
Cuống hoa dài 1,5 – 2 cm, có nhiều lông. Tán hoa chính đường kính 2,5 - 4 cm, có 50 - 120 hoa, hoa màu vàng lục nhạt, đường kính hoa nở 3 - 4 mm; đài 5 răng hình tam giác dài 1 – 1,5 cm; tràng có 5 cánh hoa hình trứng dài 2 mm; bao phấn hình trái xoan dài 1 mm và có 5 nhị [4, 5, 15].