Mở đầu (3 trang) Chƣơng 1 : Tổng quan (13 trang) Chƣơng 2 : Nguyên liệu và phƣơng pháp nghiên cứu (7 trang) Chƣơng 3 : Kết quả và thảo luận (21 trang) Kết luận và kiến nghị (1 trang) Tài liệu tham khảo (1 trang) 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN Họ Dây gối (Celastraceae), là một họ của khoảng 90-100 chi và 1.350 loài dây leo, cây bụi và cây gỗ nhỏ, thuộc về bộ Dây gối (Celastrales). Phần lớn các chi của họ này có mặt tại khu vực nhiệt đới, chỉ có chi Celastrus (dây gối), Euonymus và Maytenus là có sự phân bố rộng trong vùng có khí hậu ôn đới. GIỚI THIỆU VỀ CHI DÂY GỐI (CELASTRUS) Chi Dây gối (Celastrus) là một chi của khoảng 30 loài cây bụi và dây leo. Các loài này phân bố rộng khắp trong khu vực Đông Á, miền Australasia, châu Phi và châu Mỹ.
Các loài này có lá đơn, hình trứng, mọc so le, thông thƣờng dài khoảng 5– 20 cm. Hoa nhỏ, màu trắng, hồng hay hơi lục, mọc thành chùy hoa dài. Quả là loại quả mọng màu đỏ, ba mảnh vỏ. Quả của chúng là thức ăn của một số loài chim ăn quả, nhờ cách đó hạt đƣợc phát tán theo phân chim.
GIỚI THIỆU VỀ CÂY XẠ ĐEN 1. Phân loại khoa học Tên khoa học: Celastrus hindsii Benth. Tên tiếng Việt: bách giải, đồng triều, bạch vạn hoa, cây dây gối (thuộc Chi đây gối), hay quả nâu, hoặc cây ung thƣ (dân tộc Mƣờng, Việt Nam). Phân loại khoa học: Giới (regnum) Plantae Ngành (divisio) Magnoliophyta Lớp (class) Magnoliopsida Bộ (ordo) Celastrales Họ (familia) Celastraceae Chi (genus) Celastrus Loài (species) C.
Cây xạ đen 5 1. Phân bố Thƣờng gặp trong rừng thƣờng xanh núi cao ở độ cao 1. Cây ƣa sáng, ƣa đất tốt ẩm, tái sinh hạt, tái sinh chồi rất tốt. Mùa hoa tháng 3 - 5, quả tháng 8 - 12.
Thế giới: Trung Quốc, Việt Nam, Mianma, Ấn Độ, Thái Lan và Indonesia. Việt Nam: Quảng Ninh, Hà Nội, Hòa Bình, Nam Hà, Ninh Bình qua Thừa Thiên-Huế tới Gia Lai. Đặc điểm thực vật a. Thân xạ đen Xạ đen thuộc loại cây dây leo thân gỗ, mọc thành búi, dễ trồng.
Thân cây dạng dây dài 3-10m. Cành tròn, lúc non có màu xám nhạt, không có lông, sau chuyển sang màu nâu, có lông, về sau có màu xanh. Khi chúng ta cắt bỏ lớp xạ vỏ xạ đen ra thì thƣờng có nhựa màu đen đây là một trong những đặc trƣng của cây xạ đen. Lá xạ đen Lá xạ đen thƣờng có màu xanh đen nhạt, phiến lá hình bầu dục xoay ngƣợc, thƣờng có 7 cặp gân phụ, bìa có răng thấp, mặt lá không có lông, cuống lá dài 5 - 7mm.
Lá cũng có nhựa màu đen, đặc biệt lá cây xạ đen khô khi vò ra không dễ vụn. Lá không rụng theo mùa. Thân, lá cây xạ đen 6 c. Hoa xạ đen Hoa của cây xạ đen thƣờng mọc ở ngọn hoặc ở phía kẽ lá với thân của cây xạ đen.
Hoa mọc theo chùm có kích thƣớc từ 5-10cm, có màu trắng, có cuống tầm 2 – 4mm. Có hai loại hoa: đực và cái (có bầu 3 ô). Xạ đen thƣờng ra hoa vào tháng 3 – 5. Hoa cây xạ đen d.
Quả xạ đen Sau khi ra hoa vào tháng 3 – 5 thì cây xạ đen sẽ đậu quả vào tháng 8 – 12. Sau lần đầu ra hoa, thì tiếp các vụ sau cây xạ đen sẽ ra hoa và quả xen kẽ nhau. Quả cây xạ đen có hình dạng nang trứng, kích thƣớc tầm 1cm và nổ thành 3 mảnh. Quả cây xạ đen 7 e.
Hạt xạ đen Hạt cây xạ đen thƣờng nhỏ nhƣ hạt vừng, có màu đen tím. Vỏ hạt đƣợc bao bọc bởi một lớp mịn bóng màu đen tím. Kỹ thuật trồng cây xạ đen Có thể nói cây xạ đen là cây thuốc quý, nhƣng lại thích ứng rộng và dễ trồng, vì vậy cần mở rộng phạm vi trồng cây này. Nên trồng xạ đen dƣới tán rừng cùng một số cây gỗ khác để cây dạng thân leo này có chỗ dựa sinh trƣởng và phát triển.
Về nhân giống: có thể nhân giống bằng hạt hoặc dâm cành. Tốt nhất là dâm cành. Khi chuẩn bị vào mùa xuân, ta bấm các chồi ngọn của các cành cây xạ đen. Khi xuân sang xạ đen mọc rất nhiều nhành non màu nâu tƣơi.
Cắt các hom ở các chồi này, nhúng vào dung dịch kích ra rễ, sau đó cắm vào bầu đất, xếp ở chỗ râm mát, hằng ngày tƣới đẫm nƣớc 2 lần (sáng, chiều). Một tuần sau hom bắt đầu có rễ, sau đó đem hom đi trồng. Tình hình nghiên cứu về cây xạ đen 1. Theo Đông y Cây xạ đen có vị đắng chát, tính hàn, có tác dụng hữu hiệu trong điều trị mụn nhọt, ung thũng, tiêu viêm, giải độc, giảm tiết dịch trong xơ gan cổ chƣớng và đặc biệt trong chữa trị ung thƣ.
Có tác dụng thông kinh lợi niệu. Cây dùng trị kinh nguyệt không đều, bế kinh, viêm gan, bệnh lậu. Điều trị, ức chế và ngăn ngừa sự phát triển của tế bào ung thƣ, tiêu hạch, tiêu độc, thanh nhiệt, mát gan, hành thủy, điều hòa hoạt huyết, giảm đau, an thần, tăng cƣờng sức đề kháng cho cơ thể. Vài chục năm trƣớc, cây xạ đen, tiếng Mƣờng gọi là xạ cái, từng đƣợc lƣơng y dân tộc Mƣờng Bùi Thị Bẻn, đặt tên là cây ung thƣ, chuyên dùng để chữa các loại u khối.
Bài thuốc cây xạ đen, sau đó đƣợc bà Bẻn tặng cho Hội Đông y tỉnh Hoà Bình, nhƣng vẫn ít ngƣời biết đến. Một số bệnh nhân có bệnh đƣờng tiêu hóa nói chung (viêm loét dạ dày, tá tràng; ung thƣ dạ dày mới phát hiện; viêm gan mạn tính; xơ gan đơn thuần hoặc ung thƣ gan giai đoạn đầu; sau mổ sỏi túi mật; viêm đại tràng mạn tính; rối loạn tiêu hóa, ăn chậm tiêu, táo bón.) đã uống nƣớc sắc từ cây xạ đen, nó cho thấy có kết quả phần nào rõ rệt. Cây xạ đen có tác dụng phòng chống 8 trong điều trị ung thƣ, hạn chế phát triển của các khối u; tiêu viêm giải độc, mát gan; ăn ngủ tốt, tăng cƣờng sức đề kháng của cơ thể. Tuy nhiên, cũng cần biết rằng, dù sử dụng loại nam dƣợc nào cũng tùy thuộc vào cơ địa của mỗi bệnh nhân, không phải bệnh nhân nào dùng cũng đạt kết quả nhƣ nhau đƣợc.
Theo Tây y Viện Quân y 103 do GS. Lê Thế Trung và các bác sĩ của Học viện Quân y đã đi tiên phong trong nghiên cứu, tìm hiểu về cây xạ đen. Từ năm 1987 đoàn bác sĩ Học viện Quân y (do GS.TSKH Lê Thế Trung - Chủ tịch Hội Ung thƣ TP.Hà Nội dẫn đầu) đã phát hiện cây xạ đen trong chuyến sƣu tầm các bài thuốc quý trong dân gian. Sau 12 năm nghiên cứu, hiện Học Viện Quân Y đã chiết suất đƣợc từ loài cây này một loại tinh thể có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thƣ, đó là Flavonoid: Flavonoid là những chất oxy hóa chậm giúp ngăn chặn quá trình oxy hóa của các gốc tự do – tác nhân gây ra bệnh ung thƣ, từ đó bảo vệ cơ thể tốt hơn.
Qua một số thí nghiệm trên động vật, các bác sĩ viện 103 cho biết: Khi đem Flavonoid kết hợp với Phylamin, ta sẽ thu đƣợc một hợp chất giúp kéo dài tuổi thọ cho động vật ung thƣ, thậm chí còn tốt hơn cả tỏi Thái Lan và trinh nữ hoàng cung. Đã phát hiện trong xạ đen có Flavonoid, các polyphenol, tannin, acid amin, đƣờng khử, cyanoglycosid, triterbenoid. Cuối năm 1999, đề tài về tác dụng của cây xạ đen của các bác sĩ viện 103 đƣợc nghiêm thu, đánh dấu mốc quan trọng cho sự xuất hiện và công nhận cho một cây thuốc quý. Đối với những bệnh nhân ung thƣ, cây xạ đen đóng vai trò nhƣ một loại thực phẩm chức năng tự nhiên cực an toàn và hiệu quả, nó giúp hỗ trợ điều trị bệnh, ức chế sự tiến triển của tế bào ung thƣ, đồng thời tăng cƣờng hệ miễn dịch cho cơ thể.
Một số bài thuốc trong dân gian Tùy vào tình trạng bệnh cũng nhƣ mục đích sử dụng mà cách dùng cây xạ đen lại khác nhau. Đối với các bệnh thông thƣờng nhƣ mụn nhọt, huyết áp… chúng ta chỉ cần dùng rễ và lá xạ đen sắc lấy nƣớc uống là đã cho hiệu quả rất tốt rồi. Còn những bệnh nặng hay đặc trƣng hơn một chút thì nên chú ý phối hợp tỉ lệ lá, rễ cũng nhƣ một số cây thuốc khác để đạt kết quả điều trị tốt nhất. Thân, lá cây xạ đen trong các bài thuốc dân gian a.
Cách hỗ trợ điều trị ung thƣ Nguyên liệu: - Lá xạ đen: 25g. - Thân xạ đen: 50g. - Bạch hoa xà thiệt thảo: 40g. Đem tất cả nguyên liệu sắc lên lấy nƣớc uống hàng ngày.
Cách dùng cây xạ đen trị bệnh gan Nguyên liệu: - Thân và lá xạ đen: 40g. - Cà gai leo: 30g. 10 - Cây mật nhân: 10g. Đem tất cả nguyên liệu cho vào ấm sắc lấy nƣớc uống hàng ngày.
Chữa bệnh mất ngủ Nguyên liệu: - Thân xạ đen: 40-50 g. Đem nguyên liệu rửa sạch, sấy khô cho ráo nƣớc rồi đun với 500ml nƣớc uống. Bệnh mất ngủ sẽ đƣợc cải thiện sau 1 – 2 ngày. Chữa ung thƣ phổi, xơ gan, xơ gan cổ trƣớng Nguyên liệu: - Cây xạ đen: 30-40g.
- Cây bạch hoa xà thiệt thảo: 30g. - Cây bán chi liên: 15g. Sắc tất cả nguyên liệu lấy nƣớc uống trong ngày. Lƣu ý: - Tất cả các bài thuốc trên chỉ nên dùng trong 1 ngày, không nên để qua đêm dễ gây đầy hơi và trƣớng bụng bởi dễ bị ôi thiu.
- Phụ nữ mang thai không nên dùng nƣớc xạ đen. - Không nên ăn rau muống trong khi sử dụng cây xạ đen bởi nó có thể làm giảm tác dụng của bài thuốc. Một số sản phẩm từ xạ đen bán trên thị trƣờng 11 Hình 1. Một số sản phẩm từ xạ đen bán trên thị trƣờng 1.
CƠ SỞ LÝ THUY T VỀ PHƢƠNG PH P CHI T 1. Định nghĩa Phƣơng pháp chiết là phƣơng pháp chuyển một chất ở trạng thái hòa tan hay huyền phù từ pha lỏng (hoặc pha răn) này sang pha lỏng khác. Chiết những chất hòa tan trong dung dịch hoặc ở dạng huyền phù gọi là chiết lỏng - lỏng, chiết những chất từ hỗn hợp rắn gọi là chiết rắn - lỏng. Phƣơng pháp chiết lỏng - lỏng Nguyên tắc: là sự phân bố của một chất tan vào hai pha lỏng và hai pha lỏng này không hòa tan vào nhau.
Hằng số phân bố của một chất tan cho biết khả năng hòa tan của chất này với hai pha lỏng tại thời điểm cân bằng, đƣợc biểu diễn bằng hằng số phân bố K. K= Ca/ Cb Trong đó: Ca: nồng độ chất tan trong pha (a) tại giai đoạn cân bằng.