Chương 1: Cơ sở lý thuyết Trình bày một số nội dung lý thuyết liên quan đến thành ngữ, và thành ngữ nói về tính cách con người. Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của các thành ngữ nói về tính cách con người trong tiếng Hán (Liên hệ với thành ngữ tiếng Việt) Khảo sát đặc điểm cấu tạo (cầu trúc, từ loại, phương tiện biểu hiện nghĩa) của các thành ngữ nói về tính cách con người trong tiếng Hán và liên hệ với các đặc điểm tương ứng của thành ngữ tiếng Việt. Chương 3: Ý nghĩa và phương thức tạo nghĩa của các thành ngữ nói về tính cách 14 con người trong tiếng Hán (Liên hệ với thành ngữ tiếng Việt) Khảo sát các đặc điểm về mặt ngữ nghĩa và phương thức tạo nghĩa của các thành ngữ nói về tính cách con người trong tiếng Hán, so sánh với thành ngữ tiêng Việt, từ đó nêu ra sự giông nhau và khác nhau giữa chúng. 15 CHƯƠNG CƠ SỞ LÝ THUYET 1.1 Khái niệm thành ngữ và đặc điểm thành ngữ trong tiếng Hán Thành ngữ (idiom) là một loại cụm từ cố định được dùng khá phổ biến như một đơn vi ngôn ngữ trong các ngôn ngữ.
Thành ngữ của nước nào là tinh hoa của ngôn từ nước đó. Theo Tây phương thì thành ngữ là cách sử dụng hay hình thức đặc biệt của ngôn từ, còn Đông phương thì cho thành ngữ là cụm từ được nhân dân quen dùng từ lâu, có hình thức gọn gàng mà ý nghĩa rất sâu xa. Từ điển Ngôn ngữ học và Ngữ âm học (Dictionary of Linguistics and Phonetics) của David Cristal (1980/1997: 189) định nghĩa “ thành ngữ là một kết hợp các từ hạn chế về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, khiến cho chúng hành chức như một đơn vị độc lập”. Xét từ quan điểm cú pháp, thành ngữ ít có khả năng có biến thé ở các ngữ cảnh khác, và vì vậy thường được gọi là các “phát ngôn có sẵn” (ready-made utteraces) hoặc là các “kết hợp quen dùng” (habitual collocations).1 Khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán Ở Trung Quốc, trong tư liệu của các thư tịch cổ, hai chữ “thành ngữ” được xuất hiện sớm nhất là ở Đời Tống, khi đó cũng có một cách nói khác là “Toản ngữ”, tuy nhiên trước đó, ở Đời Đông Hán thành ngữ đã xuất hiện với cái tên là “thành ngôn”.
Và đến Đời Minh Thanh thì khái niệm thành ngữ lại được tiếp tục sử dụng. Vậy khái niệm thành ngữ là gì? Ở thời cận hiện đại khái niệm thành ngữ được xác định rõ hơn thông qua một số định nghĩa từ các từ điển như: 16 - Từ điển Từ Nguyên (năm 1915) coi thành ngữ là cỗ ngữ, phản ánh những gi lưu hành trong xã hội, có thé dẫn dụng dé biểu thị ý nghĩa của minh đều là thành ngữ. - Từ điển Từ Hải (năm 1936) coi những cỗ ngữ được mọi người hay dẫn dụng gọi là thành ngữ. Thành ngữ có nguồn gốc hoặc từ kinh truyện, hoặc từ ngạn ngữ ca dao, được xã hội quen biết, được người dân thường dùng, quen nghe.
- Từ điển Từ Hải (năm 1979) coi thành ngữ là một loại thục ngữ, là những cụm từ cố định được quen dùng. Thành ngữ trong tiếng Hán phan lớn được cấu thành bởi bốn chữ, có kết cấu tô chức đa dạng, và nhiều nguồn gốc khác nhau. Một số thành ngữ có thé được lí giải qua từng yếu tố cau tạo của nó, một số thành ngữ phải biết được nguồn gốc mới hiểu được ý nghĩa của nó. - Đại từ điển Bách khoa Trung Quốc (năm 1990) định nghĩa thành ngữ là một loại cum từ cô định, lời gọn mà ý sâu, được nhân dân quen dùng từ đời này sang đời khác.
- Từ điển Han ngữ hiện đại (năm 2002) xác định thành ngữ là một loại cụm từ cố định được người dân quen dùng trường kì, ý nghĩa trọn vẹn, kết cầu cô định, cấu trúc đơn giản, được sử dụng một cách chỉnh thể. Vào những năm 80, tác gia Hoang Ba Vinh và Liêu Tự Đông (năm 1981) cho rằng thành ngữ là những từ tô có định đặc biệt, được mọi người quen dùng xưa nay. Tác giả Trương Tĩnh cũng cho thành ngữ là những từ tổ có định mà có hai đặc điểm cơ bản là tính hoàn chỉnh về nghĩa và tính cô định về cấu trúc. Đến thập kỳ 90, ngắn gọn nhưng cũng khá rõ ràng, tác giả Mạc Bành Linh (năm 17 1999) đã đề xuất một ý kiến định nghĩa cho thành ngữ đó chính là thành ngữ tiếng Hán là một loại trong thục ngữ, chúng là những cụm từ cố định mang sắc thái văn viết được nhân dân quen dùng từ đời này sang đời khác, hình thức cơ bản của chúng là “tứ từ cách”.
Chăng hạn như #*#iŠ-an bậc lạc đạo, KZ, 472V-anh hùng háo han v. Ở Việt Nam, các nhà Việt ngữ học khi định nghĩa về thành ngữ đều có cách nhìn tương tự nhau, mặc dù cách diễn đạt không phải lúc nào cũng giống nhau. Theo Nguyễn Thiện Giáp “thành ngữ là cụm từ cô định, vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm. Đây là một định nghĩa về khái niệm thành ngữ vừa ngắn gọn vừa rõ ràng.
Ví du: An cháo đái bát, bút sa gà chết v. Nhiều nhà Việt ngữ học khác (như Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Tu, Trương Đông San.) cũng đưa ra các định nghĩa khác nhau về thành ngữ. Dé hiểu rõ hơn các quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt, chúng tôi đã tập hợp các định nghĩa về thành ngữ tiếng Việt của các nha Việt ngữ học nay qua bảng sau: S |NAM | TÁC GIẢ ĐỊNH NGHĨA THÀNH NGỮ T T 1 1972 Nguyễn Văn Thành ngữ là những đơn vị có nội dung giới thiệu, mô tả Ngọc một hình ảnh một hiện tượng, một tính cách, một trạng thái. về mặc hình thức, tuyệt đại đa số chúng là những cụm từ cố định.
2 1975 Nguyễn Thành ngữ là loại đơn vị trung gian giữa một bên là các Thiện Giáp ngữ và một bên là các quán ngữ và tục ngữ. Thành ngữ cũng là đơn vị định danh cũng là ten gọi của một sự vật, hiện tượng, là sự thể hiện của một khái niệm (có tính thống nhất về nghĩa) đồng thời cái nghĩa cộng lại của các thành tổ theo qui luật cú pháp cũng cần được hiểu. 3 | 1976 Hồ Lê Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm nhiều từ hợp lại), có tính vững chắc về cấu tạo và bóng bay về ý nghĩa, ding dé miéu 18 tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách, một trạng thái. 4 | 1976 Nguyễn Thành ngữ là cụm từ cé định, các thành phan trong đó đã Văn Tu mất đi tính độc lập, sau khi kết hợp tạo thành một chỉnh thê cố định.
Ý nghĩa của thành ngữ không thể đơn giản suy ra từ các yếu tố cầu thành. 5 1976 Trương Đông Thành ngữ là đơn vị cao nhất của ngôn ngữ, gồm hai thực Sam từ trở lên, có định về thành phan từ vị và về cấu trúc, bền vững về ngữ nghĩa, nghĩa của thành ngữ bóng bay và biểu cam. 6 | 1978 Đới Xuân Thành ngữ là cụm từ cố định mà các yếu tô tạo thành đã Ninh mất tính độc lập ở cái mức nào đó, và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh. 7 | 1983 Cu Dinh Ta Thành ngữ là tô hợp từ cố định có chức năng gọi tên sự vat, tính chất, hành động: có nội đung hàm súc và hình thức đẹp đẽ.
8 1985 Nguyễn Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh Thiện Giáp về nghĩa, vừa có tính gợi cảm. 9 | 1986 Nguyễn Đức Thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ ôn định về hình thức, Minh phản ánh những lối nói, lối suy nghĩ đặc thù của dân tộc, phản ánh khái niệm và hiện tượng. 10 | 1994 Nguyễn Hữu Thành ngữ là cum từ cố định, có tính hoàn chỉnh về nghĩa, Quỳnh có sắc thái biểu cảm, có tính hình tượng và tính cụ thé. Phần lớn thành ngữ đồng nghĩa hoặc tương đương với một từ.
11 | 1995 Truong Van Thanh ngữ là cum từ cố định, hoàn chỉnh về kết cấu va ý Sinh nghĩa; mang tính hình tượng và gợi cảm, được sử dụng tương đương như từ. 12 | 1995 Đỗ Việt Thành ngữ là ngữ cố định có tính hoàn chỉnh về nghĩa, có Hùng sắc thái biểu cảm, có tính hình tượng và tính cụ thé. Nghia cua thành ngữ thường không hiểu trực tiếp từ nghĩa đen của các yếu tố cầu tao; phần lớn thành ngữ tương đương với từ và có tham gia cầu tao câu. 13 | 1995 Bùi Tắt Tiễn Thành ngữ là những ngữ cố định có cấu tạo gọt giũa, có nghĩa thường là nghĩa bóng, vừa hoàn chỉnh vừa có tính biểu cảm.
14 | 1995 Nguyễn Thành ngữ là những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong Công Đức kho từ vựng, có chức năng định danh, tức gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy; có hiệu năng trong giao tiếp và là đơn vị ngôn ngữ văn hóa. 15 | 1996 Lê Hữu Tỉnh Thành ngữ là những cụm từ cố định có kết cấu chặt chẽ, bền vững và có ý nghĩa ổn định, hoàn chỉnh (nghĩa vốn có của các yếu tố cấu thành bị mờ đi), nghĩa của cả tô hợp có tính chất mới, tính hình tượng, tính biếu trưng rất cao. 16 | 1996 Nguyễn Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh Thiện Giáp về nghĩa vừa có giá trị gợi tả. Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ.
Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, biểu tượng cụ thé. 17 | 1997 Hoàng Văn Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về mặt 19 Hành hình thái-cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bay về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khâu ngữ. 18 | 1997 Vũ Đức Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ Nghiêu nghĩa, nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm. 19 | 1997 Nguyễn Như Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cổ định có tính chất nguyên Y khối về ngữ nghiã, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.
20 | 2009 Nguyễn Thành ngữ là cụm từ cố định, vừa có tính hoàn chỉnh về Thiện Giáp nghĩa, vừa có tính gợi cảm.