CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Vị tí địa lý - kinh tế nhân văn Tây Bắc Bộ được giới hạn có tọa độ địa lý: 19°31'58" đến 22°38'57" vĩ độ Bắc; 102°02'40" đến 106°00'00" kinh độ Đông. Tây Bắc Bộ với địa hình núi cao và chia cắt mạnh, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180km, rộng 30km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000m.
Dãy núi Sông Mã dài 500km, có những đỉnh cao trên 1800m. Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà). Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã. Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản.
Khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa. Mùa hè với gió mùa Tây nam (từ tháng 05 đến tháng 09), thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều. Mùa đông với gió mùa Đông Bắc (tháng 11 đến tháng 03 năm sau), thời tiết lạnh, khô, ít mưa. Dân tộc chủ yếu là người Thái.
Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H'Mông, Dao, Tày, Kinh, Nùng,… Mật độ dân cư phân bố không đều. Ở các thị trấn, thị tứ dân cư tập trung đông và sống xen kẽ nhau. Các làng, bản dân cư sống thành từng vùng riêng biệt, người Thái và người Mường tập trung ở phần thấp, dọc theo các tuyến đường giao thông. Người H’mông, người Dao tập trung ở các vùng núi cao.
Kinh tế: người dân sống ở các thị trấn, thị tứ làm nghề buôn bán hoặc sản xuất công nghiệp nhỏ. Hệ thống thương nghiệp kém phát triển, trung tâm huyện lỵ mới có chợ, là nơi trao đổi mua bán. Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn chủ yếu dựa vào nông nghiệp: trồng lúa, ngô, khoai, sắn và chăn nuôi gia súc. Khai thác lâm sản là nguồn thu nhập quan trọng.
Văn hóa xã hội: dân trí trong vùng đã được nâng cao thông qua mạng lưới giáo dục, các xã đều có trường tiểu học, trung học cơ sở. Do đó nạn mù chữ đã cơ bản được xóa bỏ, tiếng phổ thông là ngôn ngữ chung được sử dụng phổ biến, các hủ tục lạc hậu được giảm dần. Hiện nay điện lưới quốc gia 110kV đã cơ bản đến các xã vùng cao. Mạng thông tin liên lạc được phủ sóng đến các xã.
Các thị trấn, thị tứ đã có mạng luan an 7 internet. Hệ thống y tế đã phát triển, các xã có trạm y tế, trung tâm huyện đã có bệnh viện đa khoa góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Lịch sử nghiên cứu Theo quan điểm Trước kia khi thành lập bản đồ địa chất Đông Dương tỉ lệ 1:2. Fromaget đã phân ra các đá bị cà nát có tuổi Caledoni trong đó có phức hệ Mường Lát.
Sau này khi thành lập bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỉ lệ 1:500.Izok trên cơ sở so sánh các đặc tính chung về thạch học, thạch địa hoá, màu sắc khoáng vật biotit, ông đã xếp khối Mường Lát vào phức hệ Phia Bioc tuổi Trias muộn. Khi thành lập bản đồ địa chất Việt Nam phần miền Bắc tỷ lệ 1:1.000 Trần Văn Trị và Nguyễn Xuân Tùng đã xếp khối Mường Lát vào giai đoạn tạo núi Caledoni có tuổi Paleozoi sớm. Cũng theo quan điểm này khi thành lập chú giải cho phần địa chất Tây Bắc Việt Nam Lê Đình Hữu, Phan Viết Kỷ cũng xếp tuổi của khối này vào Paleozoi sớm. Bên cạnh đó Đào Đình Thục và nnk (1995) trong Địa chất Việt Nam - tập II, xếp phức hệ có tuổi tuyệt đối là 285 và 295 triệu năm.
Theo đề án: “Đo vẽ và lập bản đồ đia chất nhóm tờ Mường Lát tỷ lệ 1:50.000”, Đinh Công Hùng, Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc, 2003, ở ngoài thực địa quan sát thấy các granit hai mica hạt vừa - nhỏ xuyên qua các trầm tích của hệ tầng Nậm Cô (NP-1nc), phần rìa tiếp xúc granit thường bị muscovit hoá, đá sáng màu hạt nhỏ, bị ép. Các đá của hệ tầng Nậm Cô (NP-1nc) tiếp xúc với granit bị biến chất nhiệt động phân đới, mức độ biến chất giảm dần từ rìa tiếp xúc ra ngoài. Các thành tạo granitoid thuộc kiểu I và S, có tuổi phức hệ Mường Lát là G/aC1ml mang tính chất tương đối không có cơ sở rõ ràng. Khi tổng hợp tài liệu trong công trình Địa chất và tài nguyên Việt Nam Trần Văn Trị, Đặng Vũ Khúc (đồng chủ biên) và nnk, 2009, và công trình hoạt động magma Việt Nam Bùi Minh Tâm và nnk, 2010 xếp các thành tạo granitoid phức hệ có tuổi Paleozoi sớm.
Trong các đề án đo vẽ và lập bản đồ đia chất nhóm tờ Mường Lát tỷ lệ 1:50.000, Đinh Công Hùng, 2005; nhóm tờ Mộc Châu tỷ lệ 1:50.000”, Đỗ Văn Thanh, 2015, các thành tạo granitoid ngoài thực tế xuyên cắt các đá thuộc hệ tầng Nậm Cô (NP3nc) và Sông Mã (2sm). Đá của phức hệthuộc kiểu S, kết quả phân tích tuổi đồng vị 87Rb/86Sr cho giá trị 257±2,6 triệu năm. Đặc điểm địa chất khu vực Tây bắc Viêt Nam được thành tạo chủ yếu gồm ba đơn vị kiến tạo chính là đới khâu Sông Mã, rift Sông Đà và đới trượt Sông Hồng. Đới Sông Mã được cho là đới luan an 8 khâu do va chạm giữa hai mảng Nam Trung Hoa và Dương Tử.
Sự tồn tại các đá biến chất của hệ tầng Nậm Cô, các đá granit giàu nhôm và eclogit dọc theo đới khâu là bằng chứng cho ranh giới hội tụ giữa hai mảng (Zhang et al. Các đá siêu mafic-mafic dọc theo đới khâu được xem như là các ophiolit của vỏ đại dương (Thanh et al. Đới Sông Đà là hệ thống các rift nội mảng phát triển trong giai đoạn Permi- Trias. Chúng gồm các đá xâm nhập-phun trào siêu mafic đến mafic và gần gũi với basalt nội mảng Emeishan, Đông Nam Á (Hoa et al.
Đứt gãy Sông Hồng là đới trượt ngang chính ở tây bắc Việt Nam. Khoảng cách dịch chuyển khoảng 1000km từ vịnh Bắc Bộ đến cao nguyên Tây Tạng. Đứt gãy Sông Hồng thường được cho là trượt ngang lớn của thạch quyển lên đến 500km do va chạm mảng Ấn Độ và Châu Á. Dọc Theo đới trượt Sông Hồng, các đá biến chất cao hiện diện phổ biến.
Đới khâu Sông Mã được thành tạo chủ yếu gồm ophiolit, metabasit, trầm tích biến chất và eclogit. Rất nhiều các đá magma lộ ra dọc theo đới khâu Sông Mã gồm phức hệ Điện Biên, Chiềng Khương, Sông Mã, Mường Lát. Các đá granit Điện Biên và Chiềng Khương đã được nghiên cứu chi tiết, tuy nhiên Mường Lát granit vẫn còn rất ít nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu có tính định lượng cao. Granit Permi-Trias ở Việt Nam chủ yếu gồm 3 loại: A_granit, I_granit và S_granit.
A_granit ở khu vực đới Phan Si Pan phân bố theo phương đông bắc-tây nam. I_granit và S_granit ở khu vực đới khâu Sông Mã, đới Trường Sơn và một phần của địa khối Kontum phân bố theo hướng đông bắc-tây nam. Hơn nữa, S_granit và một phần I_granit phân bố ở khu vực địa khối Kontum phân bố theo phương đông-tây. A_granit phân bố ở phía bắc của đới khâu Sông Mã và gần với basalt Sông Đà trong khi đó, I_granit và S_granit phân bố chủ yếu ở phía nam của đới khâu Sông Mã (Hình 1.
luan an 9 Hình 1. Sơ đồ phân bố các kiểu S, I, A granit theo đới khâu Sông Mã, đới Trường Sơn và địa khu Kontum Phức hệ Mường Lát thuộc đới Tây Bắc Bộ, nằm về phía bắc đới khâu sông Mã, tiếp giáp với hệ rift Permi muộn - Mesozoi Sông Đà - Tú Lệ qua đới đứt gãy luan an 10 Sơn La - Hà Trung, phía tây bắc bị đới đứt gãy trượt bằng phải Lai Châu - Điện Biên cắt chéo phía nam được giới hạn bởi đứt gãy Sông Mã, phía đông là vịnh Bắc Bộ. Phức hệ Mường Lát gồm các khối Mường Lát, Sầm Sơn và khối Làng Bông, trong đó khối Mường Lát chiếm diện tích phần lớn của phức hệ Mường Lát. Trong nghiên cứu này, NCS tập trung nghiên cứu khối Mường Lát.
Khu vực nghiên cứu có tọa độ địa lý: 20° 27' 1" đến 20° 39' 42" vĩ độ Bắc; 104° 31' 6" đến 104° 57' 21" kinh độ Đông (hình 1. Vị trí khu vực nghiên cứu Trong luận án này NCS sử dụng kết quả tài liệu đo vẽ tỷ lệ 1: 50.000 nhóm tờ Mường Lát của Đinh Công Hùng và nnk, 2005 và nhóm tờ Mộc Châu của Đỗ Văn Thanh và nnk, 2015. Ngoài ra còn tham khảo thêm từ các nghiên cứu đề tài khác như: Phạm Thị Vân Anh và nnk, 2008,…để mô tả khái quát địa chất vùng nghiên cứu (hình 1. Vòm biến chất phân đới đông tâm Mường Lát Phức hệ Mường Lát được thành tạo đồng thời cùng với các phức hệ Trường Sơn và Ngân Sơn trong các miền có cấu trúc địa chất khác nhau.
Trong khu vực nghiên cứu khối Mường Lát xuyên cắt các đá hệ tầng Nậm Cô và Sông Mã, chúng bị biến chất mạnh. Đới ngoại tiếp xúc xung quanh khối Mường Lát không thấy có sự tiếp xúc nhiệt thông thường mà ở đây tồn tại các đá bị biến chất nhiệt động của hệ tầng luan an 11 Nậm Cô, Sông Mã, Suối Lát và Hàm Rồng. Từ trung tâm khối đi ra các đá vây quanh có các đới đá biến đổi sau: - Đới tái nóng chảy granit hóa: được bao quanh khối Mường Lát, với chiều rộng từ 100÷500m. Thành phần thạch học bao gồm các đá gneis, granitogneis.
Đá có cấu tạo loang lổ. Có nhiều vị trí quan sát được các ổ hoặc thấu kính granit sáng màu phát triển dọc theo các mặt cấu tạo gneis của đá phiến silimanit. + Các đá granit 2 mica, granitogneis có thành phần khoáng vật chính gồm thạch anh, plagioclas, felspat kali, biotit - muscovit, kiến trúc nửa tự hình, cấu tạo khối và định hướng dạng gneis. + Các đá gneis có thành phần khoáng vật chính gồm thạch anh plagioclas, felspat kali, biotit - muscovit, đôi chỗ gặp phybrolit với hàm lượng đá 8÷10%, kiến trúc hạt tấm biến tinh, sợi biến tinh, cấu tạo gneis đặc trưng.
- Đới silimanit: Nằm sát đới tái nóng chảy granit hóa, chiều rộng của đới từ 300÷500m. Nhưng đôi chỗ gián đoạn do bị cắt xén dịch chuyển hay bị ảnh hưởng của kiến tạo. Các loại đá chính trong đới: Đá phiến thạch anh biotit chứa silimanit, gneis biotit silimanit. Trong các vết lộ cục bộ quan sát các vỉa đá calciphyr có chứa pyroxen nằm xen với các đá phiến và đá gneis.
Chiều dày các vỉa đá calciphyr từ l÷2m đến dưới 10m.