Tổng quan luận án
Đề tài "Thạch luận các thành tạo granitoid phức hệ Mường Lát thuộc đới Tây Bắc Bộ và khoáng hóa liên quan" do nghiên cứu sinh Trần Văn Thành thực hiện tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất (Hà Nội, 2020), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Trung Hiếu và TS. Đỗ Văn Nhuận, thuộc ngành Kỹ thuật địa chất (mã số 9520501).
Trong khoa học Trái đất, nghiên cứu thạch luận magma có vai trò làm sáng tỏ các chu kỳ hoạt động magma - kiến tạo, thành phần vật chất, quá trình tương tác giữa manti và vỏ, nguồn gốc vật liệu ban đầu cũng như dự báo bối cảnh địa động lực và tiềm năng sinh khoáng nội sinh. Tại đới Tây Bắc Bộ, các thành tạo granitoid xuất lộ phong phú qua các phức hệ Chiềng Khương, Mường Lát, Điện Biên, Sông Mã, Phia Bioc. Tuy nhiên, các khối magma này chưa được nghiên cứu một cách đồng bộ và định lượng về thành phần vật chất, tuổi đồng vị, bối cảnh kiến tạo và mối quan hệ với bình đồ địa chất khu vực miền Bắc, miền Nam Việt Nam, mảng Đông Dương và nền Nam Trung Hoa. Đặc biệt, phức hệ Mường Lát có lịch sử nghiên cứu phức tạp, các quan điểm trước đây về tuổi thành tạo còn mâu thuẫn lớn, dao động từ Paleozoi sớm, Carbon sớm đến Trias muộn. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu này bằng các phương pháp địa hóa và đồng vị hiện đại.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cấu trúc địa chất, thạch học, thạch địa hóa, thành phần đồng vị, xác định thời gian thành tạo, bối cảnh kiến tạo, nguồn gốc magma và tiềm năng khoáng hóa liên quan của phức hệ Mường Lát.
Văn bản xác lập hai luận điểm bảo vệ:
- Luận điểm 1: Granitoid phức hệ Mường Lát có thành phần khoáng vật và địa hóa đặc trưng của S_granit, với tuổi 251-230 triệu năm và được hình thành từ magma có nguồn gốc vỏ trong bối cảnh gắn kết (va chạm) khối Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa và Đông Dương dọc theo đới khâu Sông Mã.
- Luận điểm 2: Granitoid Mường Lát có các đặc trưng địa hóa của granitoid kim loại hiếm, có triển vọng về Sn, W.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các thành tạo granitoid phức hệ Mường Lát và biểu hiện khoáng hóa liên quan.
- Phạm vi không gian: Khối granitoid Mường Lát (diện lộ khoảng 300 km²) thuộc đới Tây Bắc Bộ, có tọa độ địa lý từ 20°27'01" đến 20°39'42" vĩ độ Bắc và 104°31'06" đến 104°57'21" kinh độ Đông, trải trên địa bàn các huyện Mường Lát (tỉnh Thanh Hóa) và huyện Vân Hồ (tỉnh Sơn La).
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn hoạt động magma Permi muộn - Trias (251-230 triệu năm) và mối liên hệ với các cấu trúc địa tầng từ Neoproterozoi đến Paleozoi muộn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu phức hệ Mường Lát ghi nhận nhiều quan điểm khác biệt qua các thời kỳ:
- J. Fromaget (thời kỳ thành lập bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1:2.000.000): Xếp các đá bị cà nát tại khu vực Mường Lát vào chu kỳ uốn nếp Caledoni.
- E.P. Izokh (thập niên 1960, bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000): Dựa trên đặc tính thạch học, thạch địa hóa và màu sắc biotit, xếp khối Mường Lát vào phức hệ Phia Bioc có tuổi Trias muộn.
- Trần Văn Trị và Nguyễn Xuân Tùng (bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000): Xếp khối Mường Lát vào giai đoạn tạo núi Caledoni, tuổi Paleozoi sớm.
- Lê Đình Hữu và Phan Viết Kỷ: Tiếp tục xếp vào Paleozoi sớm. Năm 1977, Lê Đình Hữu chính thức xác lập tên gọi phức hệ Mường Lát với tuổi Paleozoi sớm giả định.
- Đào Đình Thục và nnk (1995): Trong công trình "Địa chất Việt Nam - tập II", ghi nhận phức hệ Mường Lát có tuổi tuyệt đối 285 và 295 triệu năm.
- Đinh Công Hùng và nnk (2003, 2005 - đo vẽ nhóm tờ Mường Lát tỷ lệ 1:50.000): Quan sát thấy granit xuyên cắt hệ tầng Nậm Cô gây biến chất nhiệt động, xếp đá thuộc kiểu I và S với ký hiệu tuổi tương đối G/aC1ml (sát trước Carbon sớm).
- Trần Văn Trị, Đặng Vũ Khúc (2009) và Bùi Minh Tâm và nnk (2010): Xếp các thành tạo granitoid phức hệ Mường Lát vào tuổi Paleozoi sớm.
- Đỗ Văn Thanh và nnk (2015 - đo vẽ nhóm tờ Mộc Châu tỷ lệ 1:50.000): Xác định granitoid xuyên cắt hệ tầng Nậm Cô và Sông Mã, xếp vào kiểu S, tuổi đồng vị Rb-Sr đá tổng đạt 257 ± 2,6 triệu năm.
| Giai đoạn / Tác giả |
Tên gọi hoặc xếp loại |
Tuổi xác định |
Phương pháp định tuổi |
| J. Fromaget |
Khối Mường Lát |
Caledoni |
Đối sánh địa chất |
| E.P. Izokh (1965) |
Phức hệ Phia Bioc |
Trias muộn |
Thạch học, thạch địa hóa |
| Trần Văn Trị, Nguyễn Xuân Tùng |
Khối Mường Lát |
Paleozoi sớm |
Đối sánh cấu trúc |
| Lê Đình Hữu (1977) |
Phức hệ Mường Lát |
Paleozoi sớm (giả định) |
Xuyên cắt địa tầng |
| Đào Đình Thục (1995) |
Phức hệ Mường Lát |
285 và 295 tr.n |
Định tuổi đồng vị trước đây |
| Đinh Công Hùng (2003, 2005) |
Phức hệ Mường Lát |
G/aC1ml (Paleozoi trung) |
Tương đồng biến chất |
| Đỗ Văn Thanh (2015) |
Phức hệ Mường Lát |
257 ± 2,6 tr.n |
Đồng vị 87Rb/86Sr đá tổng |
| Trần Văn Thành (Luận án, 2020) |
Phức hệ Mường Lát |
251 - 230 tr.n |
Đồng vị U-Pb zircon LA-ICP-MS |
Khoảng trống học thuật mà luận án giải quyết:
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dựa vào quan hệ xuyên cắt thực địa và phương pháp đối sánh thạch học tương đối, thiếu số liệu phân tích định lượng có độ chính xác cao. Bản chất địa hóa (kiểu granit I, S hay A), nguồn gốc magma (từ vỏ hay manti) và vị trí địa động lực của phức hệ Mường Lát trong đới khâu Sông Mã chưa được luận giải rõ ràng. Luận án giải quyết triệt để vấn đề tuổi thành tạo và nguồn gốc thạch luận bằng hệ thống phân tích đồng vị U-Pb zircon, Lu-Hf trong zircon và Rb-Sr, Sm-Nd đá tổng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết thạch luận magma và bối cảnh địa động lực:
- Hệ thống phân loại đá magma xâm nhập QAPF theo Streckeisen (1976) và Cox và nnk (1979) bổ sung bởi Wilson (1989).
- Lý thuyết phân chia các kiểu granit I, S, M, A theo Chappell & White (1974, 1992), Clarke (1992) và Whalen (1985, 1987).
- Phân loại bối cảnh kiến tạo granitoid theo hàm lượng nguyên tố vi lượng và đất hiếm của Pearce (1984), Harris và nnk (1986), Batchelor & Bowden (1985).
- Khung lý thuyết về mối quan hệ giữa các kiểu granit và sinh khoáng liên quan theo Kent C. Condie (2003), Walter L. Pohl (2011), Meinert (1995), Blevin (2003) và Cook (2012).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và thí nghiệm trong phòng được thực hiện với khối lượng cụ thể như sau:
| Phương pháp phân tích |
Cơ quan thực hiện |
Số lượng mẫu |
Mục đích nghiên cứu |
| Mẫu lát mỏng thạch học |
Trường Đại học Mỏ - Địa chất |
100 mẫu |
Thành phần khoáng vật, cấu tạo, kiến trúc đá |
| Mẫu phân tích khoáng tướng |
Trường Đại học Mỏ - Địa chất |
10 mẫu |
Thành phần và cấu tạo khoáng vật quặng |
| Nguyên tố chính, nguyên tố vết (ICP-MS, đất hiếm) |
Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc |
15 mẫu |
Thạch địa hóa, chuẩn hóa Chondrite và Manti |
| Tuổi đồng vị U-Pb zircon (LA-ICP-MS) |
Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc |
06 mẫu |
Định tuổi tuyệt đối thành tạo phức hệ |
| Thành phần đồng vị Hf trong zircon |
Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc |
03 mẫu |
Xác định tính chất nguồn magma và mô hình tuổi vỏ |
| Đồng vị Rb-Sr và Sm-Nd trong đá tổng |
Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc |
05 mẫu |
Tiến hóa magma và tương tác vỏ - manti |
| Phân tích vi dò điện tử (microsond) |
Phòng thí nghiệm chuyên ngành |
Bảng số liệu |
Thành phần hóa học đơn khoáng vật |
| Mẫu giã đãi và hóa nghiệm hấp thụ nguyên tử |
Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc |
Bảng số liệu |
Đánh giá khoáng hóa vành phân tán sa khoáng Sn, W |
Cơ sở dữ liệu thực tế còn kế thừa số liệu đo vẽ địa chất tỷ lệ 1:50.000 thuộc nhóm tờ Mộc Châu (Đỗ Văn Thanh, 2015) do tác giả trực tiếp tham gia và tài liệu lưu trữ từ nhóm tờ Mường Lát (Đinh Công Hùng, 2005).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về khu vực nghiên cứu
Chương 1 trình bày đặc điểm địa lý tự nhiên, nhân văn, lịch sử nghiên cứu, cấu trúc địa chất, hoạt động biến chất và phân chia các tổ hợp thạch kiến tạo tại vùng Mường Lát:
- Cấu trúc địa chất vùng nghiên cứu gồm 3 đơn vị kiến tạo chính: đới khâu Sông Mã (ranh giới va chạm Nam Trung Hoa và Đông Dương), hệ thống rift nội mảng Sông Đà (giai đoạn Permi - Trias) và đới trượt bằng Sông Hồng.
- Địa tầng khu vực gồm: loạt Bó Xinh (Neoproterozoi - Paleozoi hạ gồm hệ tầng Huổi Hào NPhh tuổi đồng vị metabasalt 576 ± 28 triệu năm và hệ tầng Nậm Ty NPnt); hệ tầng Nậm Cô (NP3nc, diện lộ khoảng 340 km², gồm 3 tập đá biến chất pelit và metabasit từ tướng đá phiến lục đến epidot - amphibolit); hệ tầng Suối Lát (NP3sl, diện lộ 23 km² metacarbonat); hệ tầng Sông Mã (Ɛ2sm, diện lộ 73 km², trầm tích lục nguyên xen carbonat chứa Au-Cu và W); hệ tầng Hàm Rồng (Ɛ3-O1hr, chứa hóa thạch Crinoidea: Ramudierinus sp.); hệ tầng Nậm Pìa (D1np) và hệ tầng Bản Páp (D1-2bp, chứa Amphipora).
- Hoạt động magma gồm: phức hệ Núi Nưa (σPZ1nn, siêu bazơ dunit, harzburgit ophiolit); phức hệ Bó Xinh (PZ1bx, gabro-amphibolit); phức hệ Chiềng Khương (γδPZ1ck, granodiorit kiểu I-S cung núi lửa); phức hệ Cẩm Thủy (P3ct, basalt nội mảng); phức hệ Điện Biên (P3-T1đb, 4 pha từ bazơ đến axit kiểu I-S granit, tuổi Rb-Sr 253-264 triệu năm); phức hệ Sông Mã (γT2sm, granitoid cung núi lửa, tuổi 213 ± 10 triệu năm).
- Cấu trúc vòm biến chất phân đới đồng tâm Mường Lát phát triển từ trung tâm ra ngoài qua 5 đới:
- Đới tái nóng chảy granit hóa (chiều rộng 100-500 m): gồm gneis, granitogneis, granit 2 mica, tổ hợp Q + Pl + Kfs + Bi + Mus ± phybrolit (8-10%).
- Đới silimanit (300-500 m): đá phiến thạch anh - biotit chứa silimanit, gneis biotit silimanit, calciphyr chứa pyroxen; tổ hợp Q + Pl + Bi + Mus + Sil + Gra; chuyển tiếp qua đới hỗn nhiễm migmatit rộng 200-250 m.
- Đới staurolit (300-500 m): đá phiến hai mica chứa staurolit; tổ hợp Q + Pl + Bi + Mus + Gra + Sta ± And.
- Đới granat: đá phiến thạch anh muscovit, phiến thạch anh - biotit - granat - cordierit; tổ hợp Q + Pl + Bi + Mus + Gra ± Cord.
- Đới biotit và clorit (800-1000 m): đá phiến thạch anh sericit - clorit; tổ hợp Q + Pl + Bi ± Clo.
- Xác lập 6 tổ hợp thạch kiến tạo: vỏ lục địa cổ (NP3nc), vỏ đại dương ophiolit (PZ1 Núi Nưa, Bó Xinh), rìa thụ động (Ɛ2-D2), cung magma (P3-T1 Điện Biên), va chạm mảng (P3-T Mường Lát) và rift nội mảng (P3 Cẩm Thủy).
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 thiết lập khung phân tích thạch luận và sinh khoáng phục vụ xử lý tài liệu thực nghiệm:
- Tổng kết các tiêu chí phân biệt granit kiểu I, S, M, A dựa trên tỷ lệ nhôm bão hòa A/CNK, khoáng vật chỉ thị (biotit giàu nhôm, muscovit, granat, silimanit trong S_granit; hornblend, sphen trong I_granit), hàm lượng P2O5, tỷ lệ đồng vị ban đầu 87Sr/86Sr và trị số δ18O.
- Xác định mối liên hệ giữa các kiểu granit với sinh khoáng: S_granit hình thành do tái nóng chảy vỏ lục địa (đá trầm tích/metapelit) trong bối cảnh va chạm mảng thường đi kèm khoáng hóa Sn, W, Mo, pegmatit kim loại hiếm (Li, Be, Ta, Nb); trong khi I_granit liên quan đến Cu, Mo, Au, Pb, Zn.
- Chuẩn hóa quy trình phân tích thạch địa hóa: tính toán CIPW norm, xử lý biểu đồ Harker, các tỷ số Ga/Al, Zr+Nb+Ce+Y, biểu đồ đa nguyên tố chuẩn hóa theo Chondrite và Manti nguyên thủy.
- Quy trình phân tích U-Pb zircon trên thiết bị LA-ICP-MS, xử lý phổ đo khối phổ, hiệu chỉnh phân đoạn khối lượng và xây dựng đường đẳng thời tương hợp Concordia (Parrish and Noble, 2003). Phương pháp đo đồng vị Lu-Hf trong zircon và hệ đẳng thời Rb-Sr, Sm-Nd đá tổng.
- Thiết lập các modul thạch hóa (chỉ số chua, độ bão hòa kiềm, hệ số oxy hóa - khử FeO*/(Fe2O3/FeO), modul Sattran Na+-Mg2+ và K+-Mg2+) nhằm định lượng tiềm năng sinh khoáng magma.
Chương 3: Đặc điểm địa chất, thạch địa hóa granitoid phức hệ Mường Lát
Chương 3 công bố kết quả khảo sát thực địa, thạch học mô tả, thành phần hóa học khoáng vật và dữ liệu địa hóa nguyên tố chính, vết và tuổi tuyệt đối:
- Khối Mường Lát diện lộ khoảng 300 km², xuyên cắt các hệ tầng Nậm Cô, Sông Mã và Suối Lát, tạo ra đới tiếp xúc biến chất nhiệt động phân đới.
- Phức hệ gồm 2 pha xâm nhập:
- Pha 1 (γT2ml1): gồm tướng hạt thô (granit hai mica sẫm màu hạt vừa đến lớn, granit biotit) và tướng hạt nhỏ (granit muscovit, granit hai mica sáng màu hạt nhỏ).
- Pha 2 (γT2ml2): aplit granit và pegmatit granit dạng mạch dày 20-25 cm.
- Thành phần khoáng vật định lượng:
- Granit hai mica: Thạch anh (20-35%), plagioclas (20,7-46%), felspat kali (25-38,3%), muscovit (1-10%), biotit (1-8%), ilmenit (1%), zircon, apatit.
- Granit biotit: Thạch anh (20-25%), plagioclas (34-39%), felspat kali (28-36%), biotit (7%), muscovit (0-1%), ilmenit (1%).
- Granit muscovit: Felspat kali (37-38%), plagioclas (29-38%), thạch anh (22-27%), muscovit (7-10%), ilmenit ít.
- Granit hai mica hạt nhỏ: Plagioclas (37-43%), felspat kali (26-33%), thạch anh (22-26%), biotit (4-7%), muscovit (2-5%), ilmenit (1%).
- Aplit granit: Thạch anh (30-44%), felspat kali (25-39%), plagioclas (15-20%), biotit (8-10%), muscovit (0-5%).
- Thành phần hóa khoáng vật qua vi dò microsond: plagioclas có thành phần từ oligoclas đến albit; felspat kali gồm microclin và orthoclas cấu tạo pertit; biotit thuộc biến thể giàu sắt - nhôm; muscovit kết tinh đồng thời và thay thế biotit.
- Đặc điểm thạch địa hóa nguyên tố chính: SiO2 dao động 64,6 - 74,32%; tổng kiềm Na2O + K2O đạt 7,05 - 9,41%; Al2O3 đạt 16,29 - 20,19%; tỷ số K2O/Na2O từ 1,0 đến 1,8 (trội kali); tổng sắt T.Fe thấp (0,75 - 3,15%); MgO thấp (0,2 - 0,81%). Chỉ số bão hòa nhôm A/CNK > 1,1; thuộc loạt S_granit, kiềm vôi cao kali.
- Tuổi đồng vị U-Pb zircon bằng LA-ICP-MS trên 6 mẫu xác định khoảng tuổi kết tinh magma kéo dài từ 251 đến 230 triệu năm (tương ứng Permi muộn đến Trias giữa).
Chương 4: Nguồn gốc granitoid phức hệ Mường Lát và khoáng hóa liên quan
Chương 4 tích hợp số liệu đồng vị phóng xạ để khôi phục nguồn gốc thạch luận, dựng mô hình kiến tạo và đánh giá triển vọng quặng:
- Thành phần đồng vị Lu-Hf trong zircon cho giá trị εHf(t) âm và mô hình tuổi vỏ hai giai đoạn (TDM2) cổ, chứng minh magma hình thành từ quá trình nóng chảy tái sinh (anatexis) của vật liệu vỏ lục địa giàu trầm tích pelit/metapelit (như hệ tầng Nậm Cô).
- Dữ liệu đồng vị Sm-Nd và Rb-Sr đá tổng khẳng định tính đồng nhất của nguồn gốc vỏ, không có sự tham gia đáng kể của vật liệu manti non trẻ.
- Bối cảnh địa động lực: Phức hệ hình thành trong giai đoạn va chạm lục địa - lục địa (syn-collisional) giữa khối Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa và địa khối Đông Dương dọc theo đới khâu Sông Mã thuộc tiến trình tạo núi Indosini.
- Đánh giá khoáng hóa liên quan:
- Môi trường oxy hóa - khử: FeO*/(Fe2O3/FeO) phản ánh điều kiện khử cao (granitoid khử kiểu ilmenit), tạo điều kiện cho Sn và W tập trung trong dung dịch dư vị magma mà không bị phân tán sớm vào silicat.
- Độ sâu thành tạo và mức độ bóc mòn: Phân tích tướng khoáng vật và bao thể khí - lỏng xác định thể xâm nhập kết tinh ở độ sâu trung bình và đang ở mức bóc mòn phần đỉnh - vòm, điều kiện thuận lợi bảo tồn các đới quặng skarn và nhiệt dịch.
- Nghiên cứu bao thể khí - lỏng trong thạch anh ghi nhận 2 nhóm nhiệt độ đồng hóa: nhóm 1 từ 225°C đến 274°C (tỷ lệ pha 70-75% lỏng, 25-30% khí); nhóm 2 từ 363°C đến 420°C (tỷ lệ pha 60-65% lỏng, 35-40% khí).
- Khoáng vật quặng xác định trong đá và mạch nhiệt dịch gồm chalcopyrit, bornit, ilmenit và sheelit. Tại đới khoáng hóa số 1, sheelit tồn tại dạng ổ trong mạch thạch anh phát huỳnh quang màu xanh dưới ánh sáng cực tím, xuyên cắt đá phiến biotit hệ tầng Sông Mã.
- Xác lập các diện tích triển vọng khoáng hóa thiếc - wolfram (Sn, W) tại khu vực Bản Ngà, suối Sao Luông - suối Chà Lầu và thôn Mau dựa trên kết quả phân tích mẫu đãi trọng sa, mẫu hóa và nung luyện hấp thụ nguyên tử.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án nêu các kết quả và điểm mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Khẳng định bản chất địa hóa kiểu S_granit, giàu nhôm (A/CNK > 1,1), kiềm vôi cao kali và có nguồn gốc phát sinh hoàn toàn từ vỏ lục địa (crustal anatexis) của phức hệ Mường Lát thông qua các phân tích định lượng địa hóa nguyên tố vết, đất hiếm và các hệ đồng vị Lu-Hf, Rb-Sr, Sm-Nd.
- Xác định mức tuổi thành tạo chính xác của granitoid phức hệ Mường Lát kéo dài trong khoảng 251 - 230 triệu năm trên cơ sở định tuổi U-Pb zircon bằng kỹ thuật LA-ICP-MS, bác bỏ các giả thuyết trước đây về tuổi Caledoni (Paleozoi sớm) hoặc Carbon sớm.
- Bổ sung tư liệu cho mô hình kiến tạo đồng va chạm giữa mảng Đông Dương và mảng Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa dọc theo đới khâu Sông Mã trong chu kỳ kiến tạo tạo núi Indosini.
- Xác lập các tiêu chí thạch địa hóa chỉ thị tiềm năng kim loại hiếm của phức hệ Mường Lát, khẳng định triển vọng khoáng hóa wolfram và thiếc (W, Sn).
- Kiến nghị và giải pháp thực tiễn:
- Khoanh vùng khu vực Bản Ngà, suối Sao Luông - suối Chà Lầu và thôn Mau làm đối tượng ưu tiên cho công tác tìm kiếm, thăm dò quặng thiếc và wolfram.
- Đề xuất sử dụng các đá granit hai mica của phức hệ Mường Lát làm vật liệu xây dựng và đá ốp lát do đạt tiêu chuẩn cơ lý.
- Sử dụng kết quả tuổi và ranh giới địa chất của luận án để chỉnh lý, bổ sung bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 trong khu vực Tây Bắc Bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu thực tế tập trung chủ yếu vào khối Mường Lát (diện lộ 300 km²), chưa tiến hành lấy mẫu và phân tích đồng bộ đối với các khối vệ tinh nhỏ hơn của phức hệ như khối Sầm Sơn và khối Làng Bông.
- Chưa làm sáng tỏ hoàn toàn bản chất thạch luận và tuổi tuyệt đối của hệ thống các đai mạch mafic - trung tính (gabro, gabro-diabas, diabas, diorit) xuyên cắt trong khu vực nghiên cứu (hiện văn bản xếp vào nhóm đai mạch chưa rõ tuổi).
- Đánh giá khoáng hóa thiếc - wolfram mới dừng lại ở mức độ xác định tiền đề địa chất, phát hiện các đới khoáng hóa nhiệt dịch, vành phân tán sa khoáng và chỉ số thạch hóa, chưa lượng hóa trữ lượng cụ thể của các thân quặng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu thạch địa hóa và tuổi đồng vị U-Pb zircon cho các khối Sầm Sơn, Làng Bông và các đai mạch xuyên cắt để hoàn thiện bình đồ phân bố không gian - thời gian của toàn phức hệ.
- Tiến hành đo vẽ chi tiết mạng lưới công trình khai đào và khoan thăm dò sâu tại các dị thường khoáng hóa Bản Ngà và suối Sao Luông nhằm đánh giá quy mô trữ lượng quặng thiếc - wolfram công nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu có giá trị cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Địa chất, Thạch luận magma, Địa hóa học và Khoáng sản: Sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp kết hợp đồng vị U-Pb zircon, Hf và Sm-Nd để giải quyết nguồn gốc magma và phân tích cấu trúc vòm biến chất nhiệt động phân đới.
- Các cơ quan điều tra địa chất (như Cục Địa chất Việt Nam, các Liên đoàn Bản đồ Địa chất): Ứng dụng tập số liệu tuổi 251-230 triệu năm và ranh giới các pha xâm nhập để chuẩn hóa, chỉnh lý các tờ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000 và 1:200.000 khu vực đới Sông Mã - Tây Bắc Bộ.
- Đơn vị tìm kiếm - thăm dò khoáng sản: Tham khảo các tiêu chí modul thạch hóa sinh khoáng, bản đồ dị thường sa khoáng và tọa độ các đới mạch thạch anh - sheelit tại Bản Ngà và suối Sao Luông để định hướng đầu tư thăm dò kim loại hiếm (Sn, W).
Câu hỏi thường gặp
1. Tuổi thành tạo của granitoid phức hệ Mường Lát được luận án xác định chính xác là bao nhiêu và bằng phương pháp nào?
Luận án xác định tuổi thành tạo của granitoid phức hệ Mường Lát kéo dài trong khoảng 251 đến 230 triệu năm (thuộc Permi muộn đến Trias giữa) bằng phương pháp phân tích đồng vị U-Pb trên đơn khoáng zircon bằng kỹ thuật LA-ICP-MS (thực hiện trên 06 mẫu). Kết quả này thay thế các định tuổi tương đối trước đây (như tuổi Caledoni, Carbon sớm hay Trias muộn).
2. Granitoid phức hệ Mường Lát thuộc kiểu granit nào và có nguồn gốc từ đâu?
Granitoid phức hệ Mường Lát thuộc kiểu S_granit, giàu nhôm (A/CNK > 1,1), kiềm vôi cao kali, đặc trưng bởi sự có mặt của biotit, muscovit và silimanit. Kết quả phân tích đồng vị Lu-Hf trong zircon (giá trị εHf(t) âm) và Sm-Nd đá tổng khẳng định magma có nguồn gốc tái nóng chảy từ vỏ lục địa giàu vật liệu trầm tích sét (metapelit) trong bối cảnh va chạm mảng Indosini.
3. Vòm biến chất phân đới đồng tâm quanh khối Mường Lát gồm những đới nào?
Vòm biến chất phát triển từ trung tâm khối magma ra ngoài gồm 5 đới: (1) Đới tái nóng chảy granit hóa (chiều rộng 100-500 m, đá gneis, granitogneis); (2) Đới silimanit (300-500 m, tổ hợp Q + Pl + Bi + Mus + Sil + Gra); (3) Đới staurolit (300-500 m, tổ hợp Q + Pl + Bi + Mus + Gra + Sta ± And); (4) Đới granat (đá phiến thạch anh muscovit granat); (5) Đới biotit và clorit (800-1000 m, đá phiến thạch anh sericit clorit).
4. Khoáng hóa liên quan đến phức hệ Mường Lát có triển vọng đối với loại khoáng sản nào và xuất lộ ở đâu?
Phức hệ Mường Lát có triển vọng đối với khoáng sản kim loại hiếm là Thiếc (Sn) và Wolfram (W). Các biểu hiện quặng gồm sheelit dạng ổ trong mạch thạch anh xuyên cắt đá phiến biotit (phát huỳnh quang màu xanh dưới tia cực tím) cùng các vành trọng sa wolframit, sheelit tập trung tại khu vực Bản Ngà, suối Sao Luông - suối Chà Lầu và thôn Mau.
5. Điều kiện hóa lý tạo khoáng của các mạch nhiệt dịch chứa quặng được ghi nhận như thế nào?
Phân tích bao thể khí - lỏng trong thạch anh ghi nhận 2 nhóm nhiệt độ đồng hóa: nhóm nhiệt độ trung bình từ 225°C đến 274°C (tỷ lệ 70-75% pha lỏng, 25-30% pha khí) và nhóm nhiệt độ cao từ 363°C đến 420°C (tỷ lệ 60-65% pha lỏng, 35-40% pha khí). Các khoáng vật quặng cộng sinh gồm sheelit, chalcopyrit, bornit và ilmenit trong điều kiện môi trường khử cao.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trần Văn Thành đã làm sáng tỏ bản chất thạch luận của phức hệ granitoid Mường Lát thuộc đới Tây Bắc Bộ là S_granit nguồn gốc vỏ, hình thành trong bối cảnh kiến tạo đồng va chạm dọc đới khâu Sông Mã. Kết quả phân tích U-Pb zircon bằng LA-ICP-MS đã xác lập khung tuổi kết tinh magma chính xác từ 251 đến 230 triệu năm (Permi muộn - Trias giữa), giải quyết dứt điểm các bất đồng về tuổi trong lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực. Đồng thời, công trình đã xác lập các chỉ tiêu địa hóa chỉ thị tiềm năng sinh quặng kim loại hiếm và định vị các diện tích triển vọng khoáng hóa wolfram - thiếc tại khu vực Bản Ngà và phụ cận. Số liệu phân tích định lượng của luận án đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác đo vẽ bản đồ địa chất và định hướng điều tra khoáng sản nội sinh tại Tây Bắc Việt Nam.