MỞ ĐẦU Trong hơn một thập kỷ qua, Interleukin (IL)-33, là một cytokin mới thuộc họ IL-1 đã được chứng minh có liên quan rõ rệt đến các bệnh viêm (hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm ruột) và các bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống, đa xơ cứng) [31]. IL-33 được xem là đích tác động tiềm năng trong điều trị nhiễm trùng đường hô hấp, đặc biệt là hen suyễn, viêm khớp dạng thấp và bệnh xơ cứng cơ xương [40]. IL-33 cũng được đánh giá là một mục tiêu trong điều trị bệnh Alzheimer với bằng chứng về sự tăng biểu hiện của IL-33 và thụ thể ST2 ở não của bệnh nhân mắc bệnh này [50]. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu tìm kiếm các chất ức chế hoạt tính của IL-33 làm thuốc nhưng đến nay trên thế giới vẫn chưa có thuốc nào được chính thức chấp nhận cho tác dụng điều trị theo cơ chế này.
Tại Việt Nam, hướng nghiên cứu phát triển thuốc tập trung vào IL-33 đang được quan tâm. Nghiên cứu của tác giả Mai Thành Tấn và cộng sự (2016) đã thiết kế thành công các cấu trúc phân tử nhỏ có khả năng ức chế hoạt tính IL-33 in silico [1]. Tuy nhiên, nguồn IL-33 cung ứng cho thử nghiệm hoạt tính các chất này in vitro không sẵn có do IL-33 chưa được thương mại hoá. Giá thành của IL-33 đặt gia công tổng hợp lại rất cao dẫn đến việc nghiên cứu thuốc trở nên vô cùng khó khăn.
Vì vậy, nhu cầu tạo được nguồn IL-33 tái tổ hợp sẵn có dùng cho mục đích nghiên cứu trong nước là vô cùng cần thiết. Tại Việt Nam đã có những nghiên cứu tiến hành tạo nguồn IL-33 tái tổ hợp như nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thảo và cộng sự (2015) tuy nhiên nghiên cứu chỉ sản xuất IL-33 chuột dạng hòa tan trên nấm men Pichia pastoris [36]. Cho đến nay trong nước vẫn chưa có công trình khác nghiên cứu tái tổ hợp IL-33 của người và sử dụng biểu hiện trên Escherichia coli. Gần đây, nhóm nghiên cứu Hoá sinh tại khoa Dược, đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh đã tạo dòng thành công chủng E.
coli biểu hiện IL-33 dạng dung hợp với SUMO ở quy mô 50 mL dịch nuôi cấy. Trong đề tài “ Bước đầu nghiên cứu tổng hợp Interleukin-33 người tái tổ hợp trên Escherichia coli” này, chúng tôi tiếp tục tiến hành nghiên cứu trên với mục tiêu. 2 tổng quát là tạo IL-33 tái tổ hợp dạng nguyên thể (native) với quy mô lớn hơn. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: - Khảo sát một số điều kiện nuôi cấy E.
coli mang plasmid tái tổ hợp để thu tối đa sinh khối ở quy mô nuôi cấy lớn. - Tinh chế IL-33 dạng dung hợp với SUMO - Khảo sát các điều kiện thuỷ giải IL-33 dạng dung hợp bằng SUMO protease để thu IL-33 dạng nguyên thể - Tinh chế IL-33 dạng nguyên thể - Khảo sát in silico tiềm năng của IL-33 ở dạng gắn kết với SUMO và dạng tự nhiên trong nghiên cứu tương tác với thụ thể ST2 .1 Tổng quan về Interleukin Cytokin là một loại protein giúp truyền tín hiệu giữa các tế bào. Ban đầu cytokin được cho là được sản xuất bởi một mình tế bào bạch cầu nhưng sau đó được phát hiện là cũng được sản xuất bởi những tế bào khác nhau trong cơ thể. Và chỉ với một lượng picomol cũng có thể gây ra các biến đổi lớn trong chuyển hóa của tế bào đích [3].
Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt và biệt hóa các tế bào miễn dịch, có hoạt tính chống viêm và chống sưng tấy. Do đó, chức năng chính của Interleukin là điều chỉnh sự phát triển, biệt hóa và hoạt hóa trong các phản ứng viêm và miễn dịch [3].2 Tổng quan về Interleukin-33 1.1 Cấu trúc của Interleukin-33 IL-33 ban đầu được biết đến như là một protein biểu hiện trong tế bào nội mô của hạch bạch huyết và có tên là NF-HEV (nuclear factor - high endothelial venule). Nó cũng là một protein thuộc họ IL-1 (một họ cytokin đóng vai trò quan trọng trong phản ứng miễn dịch của cơ thể, điều hòa miễn dịch, phản ứng dị ứng và viêm) [3], [6], [26]. IL-33 được xác định có trình tự acid amin tương đồng cao với IL-18 và cấu trúc phiến β giống với các thành viên trong họ IL-1 [46].
IL-33 là một chuỗi polypeptid gồm 270 acid amin, với khối lượng khoảng 30 kDa. IL-33 bị phân cắt bởi protease elastase, cathespin G, proteinase 3 và caspase-1 tạo thành các dạng trưởng thành IL-3395–270, IL-33 99–270, IL-33 109–270 và IL-33 112–270. IL-33 có cấu trúc gấp cuộn β-trefoil tương tự IL-1α, IL-1 β và IL-18 (gồm 12 sợi β, được đánh số từ 1 – 12) [27] được minh họa như Hình 1.1 Cấu trúc NMR IL-33 Nguồn: Liu X. Dựa trên các dự đoán về cấu trúc, vùng đầu tận N của IL-33 (acid amin 1-65) được cho là chứa miền liên kết DNA dạng chuỗi xoắn, có vai trò điều hòa phiên mã do mang cấu trúc helix-turn-helix.
Vùng đầu tận C từ vị trí acid amin 112- 270 chứa cấu trúc β-trefoil, là vùng quyết định đặc tính cytokin ngoại bào của IL-33 [12]. Vùng này thể hiện chức năng như một cytokin thúc đẩy viêm bằng cách tác động lên tế bào đích thông qua thụ thể ST2 hiện diện trên bề mặt tế bào [46]. Cấu trúc 3D của vùng này cũng đã được mô tả bằng phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) và tinh thể học tia X. Cấu trúc tinh thể của phức hợp IL-33/ ST2 cho thấy IL-33 tương tác với ST2 thông qua một giao diện liên kết lớn gồm hai vị trí liên kết.
Vị trí 1 được hình thành bởi các tương tác cầu muối giữa Glu144, Glu148, Asp149 và Asp244 của IL-3 và Arg38, Lys22, Arg198 và Arg35 của ST2. Còn tại vị trí 2, Glu165 của IL-33 tạo tương tác cầu muối với Arg313 của ST2, và các tương tác kỵ nước được tạo bởi Tyr163 và Leu182 của IL-33 và Leu246, Leu306 và Leu311 của ST2 [12].2 Sinh tổng hợp Interleukin-33 Tên ban đầu của IL-33 là NF-HEV có nghĩa là yếu tố nhân của tế bào nội mô thành mạch vì được tìm thấy trong nhân của tế bào này [6]. Tế bào nội mô thành mạch là tế bào được biệt hóa từ các mô hạch bạch huyết thứ cấp. Chúng biểu hiện các phân thử bám dính cho phép các tế bào bạch cầu đi từ máu vào mô bạch huyết.
Gần đây IL-33 cũng được tìm thấy trong nhân của các tế bào biểu mô, đặc biệt là là da, dạ dày, hạch amydal và tuyến nước bọt [35]. Các IL-33 sau khi được sản xuất bởi các tế bào nội mô và biểu mô sẽ được tiết ra ngoài tế bào và chuyển thành dạng có hoạt tính sinh học như một cytokin, hoặc có thể vào nhân tế bào để thực hiện chức năng như một yếu tố điều hòa phiên mã [9]. Tuy nhiên ngày nay người ta vẫn chưa biết rõ được cơ chế tiết của IL-33. Vì trong cấu trúc của IL-33 không chứa trình tự tiết nên IL-33 sẽ không tiết theo trình tự thông thường qua lưới nội chất nhám và thể Golgi.
IL-33 có thể được tiết theo cơ chế hoại tử của tế bào dưới dạng tiền phân tử sau đó biến đổi và tác động lên tế bào đích thông qua thụ thể của nó [29]. Quá trình phiên mã tạo ra IL-33 dạng tiền chất (preform) hay còn được gọi là dạng đầy đủ (full-length) bao gồm 270 acid amin (khối lượng 30 kDa) như thường thấy của các thành viên thuộc họ IL-1. Ngoài dạng đầy đủ IL-33 còn có dạng tồn tại khác là dạng trưởng thành (IL-33 mature) hay còn được gọi là dạng hoạt động (IL-33 active), có khối lượng 18 kDa được phân cắt từ dạng đầy đủ bởi caspase-3. Cả 2 dạng đều có hoạt tính sinh học; trong đó dạng trưởng thành có hoạt tính sinh học mạnh gấp 10 lần dạng đầy đủ [31].3 Cấu trúc thụ thể ST2 của Interleukin-33 Thụ thể chính và đặc hiệu của IL-33 là ST2 (còn gọi là Interleukin-1 receptor- like 1 hoặc IL-1R4).
Thụ thể ST2 tồn tại trong cơ thể với 3 dạng: dạng xuyên màng (dạng truyền tín hiệu), dạng hòa tan và dạng cố định trên màng tế bào (không có phần nội bào) [11]. Tương tự các thành viên khác trong họ thụ thể IL-1, phần ngoại bào bao gồm 3 domain IgG-like (lần lượt là D1, D2, D3). Phần D1 và D2 là phần cứng của thụ thể ST2 nối với nhau qua cầu nối disulfid, D3 nối với phức hợp D1D2 bằng. 6 một cầu nối linh động.
ST2 chịu sự thay đổi về mặt cấu trúc (chủ yếu nằm ở vùng D3) khi liên kết với IL-33 [27]. IL-33 gây ra tác dụng sinh học bằng cách gắn vào thụ thể ST2 và một đồng thụ thể (coreceptor) IL-1RAcP (Interleukin-1 receptor accessory protein) còn có tên gọi khác là IL-1R3 và sự hiện diện của c-kit (gắn kết phần ngoại bào của IL-1RAcP và phần nội bào của ST2) để khuếch đại tín hiệu. Cả ST2 và IL-1RacP đều thuộc họ IL-1. Tương tác của IL-33 và thụ thể ST2 tương tự các cặp khác tương tự như IL- 1β/IL-1RI (Hình 1.2 Quá trình gắn kết của IL-33 vào ST2 và IL-1RacP Nguồn: Liu X.
(2013) [27] Phần màu đỏ: IL-33; màu xanh dương: thụ thể ST2; xanh lá thụ thể IL-1RAcP 1.4 Vai trò sinh học của Interleukin-33 Interleukin-33 là một protein quan trọng thuộc họ IL-1, có vai trò trong các phản ứng miễn dịch và được coi như một yếu tố thúc đẩy viêm [25]. IL-33 gắn lên thụ thể của nó là ST2, ảnh hưởng tới nhiều loại tế bào miễn dịch khác nhau như tế bào mast, tế bào lympho T CD4, bạch cầu ưa base, bạch cầu ưa acid, bạch cầu đơn nhân, đại thực bào, diệt bào tự nhiên và bạch cầu đa nhân trung tính [41]. Trong các nghiên cứu gần đây, IL-33 được chứng minh là có liên quan đến các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, đặc biệt là hen suyễn và việc ức chế IL-33 được đề nghị như một phương pháp điều trị tiềm năng [39]. Ngoài ra, nồng độ của IL-33 và ST2 cũng được chứng minh là tăng lên trong các bệnh tự miễn như viêm khớp dạng thấp, bệnh đa xơ cứng, bệnh viêm ruột tự miễn, lupus ban đỏ hệ thống [41].5 Các thuốc ức chế Interleukin-33 hiện nay Hiện nay, chưa có thuốc nào chính thức được phê duyệt cho tác dụng điều trị các bệnh theo cơ chế ức chế IL-33.
Một số tác nhân sinh học như kháng thể kháng IL-33 và protein bẫy IL-33 đang được nghiên cứu [19], [22], [36]. Nghiên cứu của Kim và cộng sự (2016) báo cáo một phân tử nhỏ gắn kết với IL-33 nhưng chỉ dừng lại ở việc docking và đánh giá bằng phổ cộng hưởng từ hạt nhân [22].3 Sản xuất protein tái tổ hợp bằng vi khuẩn Escherichia coli 1.1 Đặc điểm của vi khuẩn Escherichia coli E.