mở đầu là nước Anh đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp, với nội dung chủ yếu là chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí. Đây là mốc đánh dấu sự khởi đầu cho tiến trình công nghiệp hóa của thế giới. Tuy vậy, phải đến thế kỷ XIX, khái niệm công nghiệp hóa mới được dùng để thay thế cho khái niệm cách mạng công nghiệp, mặc dù sau cách mạng công nghiệp ở Anh, một thế 11 hệ công nghiệp hóa đã diễn ra ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Có thể khái quát, công nghiệp hóa là quá trình tạo sự chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp với nền kinh tế lạc hậu, dựa trên lao động thủ công, năng suất thấp sang nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế hiện đại, dựa trên lao động sử dụng bằng máy móc, tạo ra năng suất lao động cao.
Như vậy, công nghiệp hóa là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành nước công nghiệp hiện đại với trình độ công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, có năng suất lao động cao trong các ngành kinh tế quốc dân. Hiện đại hóa là quá trình tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại. Trong điều kiện của Việt Nam, Đảng ta xác định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”[7]. *Quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn mới Đại hội XII nhấn mạnh: “Xác định hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Chú trọng những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế (GDP bình quân đầu người, tỷ trọng giá trị gia tăng công nghiệp chế tạo, tỷ trọng nông nghiệp, tỷ lệ đô thị hóa, điện bình quân đầu người,.); những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội (chỉ số phát triển con người, tuổi thọ bình quân, chỉ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, số bác sĩ trên 1 vạn dân, tỷ lệ lao động qua đào tạo,.); và những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về môi trường (tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch, độ che phủ rừng, tỷ lệ giảm mức phát thải khí nhà kính. So với hệ tiêu chí của nước công nghiệp theo hướng hiện đại, những kết quả mà quá trình CNH, HĐH nước ta đạt được còn tương đối thấp và chưa đạt chuẩn. Do đó, để nâng cao chất lượng CNH, HĐH, hướng tới mục tiêu “phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, Đại hội XII đề ra những phương hướng sau: - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình CNH, HĐH trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, 12 công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu; huy động và phân bổ có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển. - Xây dựng cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động hợp lý, phát huy lợi thế so sánh, có năng suất lao động và năng lực cạnh tranh cao, tham gia sâu, rộng vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; có văn minh công nghiệp chiếm ưu thế trong sản xuất và đời sống xã hội; phát triển nhanh và bền vững phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiến hành qua ba bước: tạo tiền đề, điều kiện để CNH, HĐH; đẩy mạnh CNH, HĐH; nâng cao chất lượng CNH, HĐH. - Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương và có chính sách phù hợp để xây dựng, phát triển các ngành công nghiệp theo hướng hiện đại, tăng hàm lượng khoa học - công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm, tập trung vào những ngành có tính nền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; có khả năng tham gia sâu, có hiệu quả vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu. - Phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử, hóa chất, công nghiệp xây dựng, xây lắp, công nghiệp quốc phòng, an ninh. Chú trọng phát triển các ngành có lợi thế cạnh tranh; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn; năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và sản xuất vật liệu mới; từng bước phát triển công nghệ sinh học, công nghiệp môi trường và công nghiệp văn hóa.
- Tiếp tục phát triển hợp lý một số ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Phân bố công nghiệp hợp lý hơn trên toàn lãnh thổ; nâng cao hiệu quả các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất; sớm đưa một số khu công nghiệp công nghệ cao vào hoạt động. Sự cần thiết tăng trưởng kinh tế bền vững ở Hải Phòng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. 33 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.
Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao và liên tục (Thời kỳ 1976 – 1985, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 2%/năm thì đến thời kỳ 1986 – 1990 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đã đạt 4,4%/năm; thời kỳ 1991 – 1995: 8,2%/năm; thời kỳ 1996 – 2000: 7,0%/năm; thời kỳ 2001 13 – 2005: 7,5%/năm; thời kỳ 2006 – 2010: 7,0%/năm; thời kỳ 2011 – 2017: 6%/năm. Quy mô nền kinh tế tăng nhanh. Năm 2001, sau 15 năm đổi mới, thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam mới đạt 405USD/năm thì đến năm 2018, sau 30 năm đổi mới, GDP đạt khoảng 243 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1986 – 2018 Đơn vị tính: % Tốc độ tăng Tốc độ tăng Tốc độ tăng Năm Năm trưởng Năm trưởng trưởng kinh tế kinh tế kinh tế 1986 2,8 1991 5,81 1996 9,34 1987 3,6 1992 8,7 1997 8,15 1988 6,0 1993 8,08 1998 5,76 1989 4,7 1994 8,83 1999 4,77 1990 5,1 1995 9,54 2000 6,79 Trung bình 4,4 Trung bình 8,2 Trung bình 7,0 thời kỳ thời kỳ thời kỳ 2001 6,89 2006 8,23 2011 5,89 2002 7,08 2007 8,48 2012 5,03 2003 7,34 2008 6,23 2013 5,42 2004 7,79 2009 5,32 2014 5,98 2005 8,43 2010 6,78 2015 6,68 2016 6,21 2017 6,8 2018 7,08 Trung bình 7,5 Trung bình 7,0 Trung bình 6,14 thời kỳ thời kỳ thời kỳ Nguồn: Tác giả tổng hợp Năng suất lao động giai đoạn 2006 – 2015 tăng bình quân 3,9%/năm.
Hệ số sử dụng vốn (ICOR) giảm từ 6,96 giai đoạn 2006-2010 xuống 6,5 giai đoạn 2011-2015. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng giai đoạn 2006 - 2015 khoảng 23% [15]. Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định.
Lạm phát được kiểm soát. Từ những 14 thành tựu của tăng trưởng kinh tế đã tạo tiền đề vật chất quan trọng để Việt Nam từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm lực của nền kinh tế.
Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Chất lượng tăng trưởng thấp, tăng trưởng thiếu tính bền vững. Năng suất nhiều ngành, lĩnh vực còn thấp; công nghệ sản xuất phần lớn lạc hậu. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng còn hạn chế, hệ số sử dụng vốn (ICOR) cao.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm… Trong quá trình tăng trưởng các vấn đề xã hội và môi trường cũng còn nhiều hạn chế. Nguy cơ tái nghèo cao và khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn. Tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Trong xã hội còn nhiều biểu hiện xấu về đạo đức, lối sống.
Việc điều tra cơ bản, quy hoạch và sử dụng tài nguyên còn bất cập. Công tác bảo vệ môi trường thể hiện nhiều yếu kém. “Ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi còn nghiêm trọng, nhất là tại một số làng nghề, lưu vực sông; xử lý vi phạm môi trường chưa nghiêm. Ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân và doanh nghiệp chưa cao”.[15] Nằm trong tình hình chung của cả nước, thời gian vừa qua, kinh tế Hải Phòng tăng trưởng khá cao, bình quân gấp 1,68 lần mức tăng chung cả nước.
Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) theo giá so sánh 2010, năm 2018 đạt 154.712,7 tỷ đồng, tăng 16,27% so với cùng kỳ năm trước, vượt kế hoạch năm 2018 (kế hoạch tăng 15%), là mức tăng cao nhất từ trước đến nay, đứng vị trí thứ hai của cả nước. Quy mô kinh tế gấp 4,27 lần so với năm 2003; giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người đạt 3.964 USD, gấp 1,54 lần bình quân cả nước; tăng 5,43 lần so với năm 2003. [29] Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa; mô hình tăng trưởng chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu; khai thác tốt tiềm năng, lợi thế, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội; chú trọng phát triển tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, liên kết vùng và phát triển kinh tế đối ngoại. Ngành công nghiệp phát triển đột phá với nhiều khu công nghiệp, dự án lớn như Nomura, Vinfast, củng cố vị trí Hải Phòng là trung tâm công nghiệp lớn, là đầu mối giao thông quan trọng và cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc; hệ thống hạ 15 tầng giao thông có bước phát triển đột phá.
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đạt kết quả tích cực, hướng đến thành phố cảng xanh, văn minh, hiện đại. Nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.