CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Mục tiêu nghiên cứu: Trong nhiều thế kỷ qua hiện tượng tâm lý bầy đàn luôn là một bài toán bí ẩn và đã gây nhiều sóng gió trên thị trường ở hầu hết các quốc gia trên thế giới; ví dụ, cơn cuồng củ hoa tulip, bóng bóng South Sea, cơn bùng nổ điện tử, … Trong các hiện tượng này thì “cơn bùng nổ điện tử” thật sự là một bức tranh được mô tả toàn diện về hiện tượng này. “Cơn bùng nổ điện tử” diễn ra vào năm 1960. Vào khoảng thời gian 1959 đến năm 1962, số lượng cổ phiếu phát hành nhiều hơn bất kỳ thời điểm nào trước đó trong lịch sử, nhằm đáp ứng cơn khát cổ phiếu vô độ của nhà đầu tư. Các nhà đầu tư chẳng quan tâm đến lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động – miễn là nghe có vẻ rất “điện tử” thì giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó bổng nhưng tăng vọt.
Nhà đầu tư luôn tin rằng người mua sẵn sàng trả mức giá thậm chí còn cao hơn mà không có một nền tảng lý thuyết vững chắc để giải thích cho hiện tượng này. Hàng loạt cổ phiếu lên sàn; ví dụ, hãng American music Guild với hoạt động kinh doanh chủ yếu là giao bán máy nghe nhạc và đĩa hát tận nhà đã đổi tên thành “Space Tone” trước khi cổ phần hóa thì giá cổ phiếu của công ty này đã tăng từ mức 2 lên mức 14 chỉ sau vài tuần chào bán, … Jack Dreyfus của hãng “Dreyfus & Company đã bình luận về cơn điên loạn này như sau: “Trên thị trường hiện nay, cụm từ “electronic” và “silicon” có giá trị lợi nhuận gấp 15 lần. Công ty Shoelaces (sản xuất dây giày) đã đổi tên thành “Electronics & Silicon Furth-Burners đã giúp lợi nhuận của công ty tăng lên đáng kể từ 6 lần (đến từ lợi nhuận kinh doanh) lên 42 lần 2 (15 lần cho cụm từ “Electronics & Silicon”, và gấp 2 lần cho cụm từ lạ “Furth- Burners”). Qua câu chuyện về “cơn bùng nổ điện tử” chúng ta mới thật sự thấy được tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn của “tâm lý bầy đàn” đã chi phối hành vi của nhà đầu tư như thế nào.
Vì vậy, nghiên cứu sự tồn tại tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán trước khi đưa ra quyết định đầu từ là một vấn đề vô cùng cần thiết. Với bài nghiên cứu này bằng những số liệu thực tế diễn biến giá cổ phiếu trên thị trường, tôi mong muốn rằng sẽ có câu trả lời chính xác hơn về việc liệu có hay không sự tồn tại của tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó có thể giúp nhà đầu tư trên thị trường có thể thận trọng và bình tĩnh hơn khi đưa ra quyết định đầu tư của mình.2 Câu hỏi nghiên cứu: Để làm rõ hơn cho mục đích nghiên cứu, bài nghiên cứu sẽ tìm ra đáp án cho hai câu hỏi nghiên cứu: Câu hỏi thứ nhất: “Tâm lý bầy đàn có tồn tại trong thị trường chứng khoán Việt Nam không?” Câu hỏi thứ hai: “Tâm lý bầy đàn tồn tại rõ rệt trên thị trường tăng giá hay giảm giá?” 1.3 Phạm vi nghiên cứu: Với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, để đảm bảo có một bức tranh tổng quan hơn về việc có hay không sự tồn tại tâm lý bầy đàn tại thị trường Việt Nam, ta tiến hành thu thập dữ liệu giá đóng cửa theo ngày của toàn bộ cổ phiếu được niêm 3 yết liên tục trên thị trường (bao gồm thị trường chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội) trong khoảng thời gian từ tháng 01/2006 đến tháng 12/2010. 4 CHƯƠNG II CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 So sánh lý thuyết tài chính truyền thống và tài chính hành vi: Các lý thuyết tài chính thống trị trong hơn 30 năm qua là lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH). Có hai giả thiết cơ bản hình thành nên lý thuyết thị trường hiệu quả.
Giả thiết 1: các nhà đầu tư là hợp lý. Giả thiết 2: các nhà đầu tư suy nghĩ và hành xử “hợp lý” khi mua và bán cổ phiếu. Cụ thể các nhà đầu tư được cho là đã sử dụng tất cả các thông tin có sẵn để tạo thành "kỳ vọng hợp lý" về tương lai trong việc xác định giá trị của công ty và sức khỏe nói chung của nền kinh tế. Do đó, giá cổ phiếu chính xác nên phản ánh những giá trị cơ bản và sẽ chỉ di chuyển lên và xuống khi có thông tin tích cực hoặc tiêu cực bất ngờ, tương ứng.
Vì vậy, các nhà kinh tế đã kết luận rằng các thị trường tài chính ổn định và hiệu quả, giá cổ phiếu theo một "bước đi ngẫu nhiên" và toàn bộ nền kinh tế có xu hướng hướng tới "cân bằng tổng thể". Tuy nhiên, trong thực tế, theo Shiller (1999) các nhà đầu tư không suy nghĩ và hành động có lý. Ngược lại, thúc đẩy bởi lòng tham và nỗi sợ hãi, các nhà đầu tư suy đoán giá cổ phiếu giữa mức cao và thấp không thực tế. Nói cách khác, các nhà đầu tư bị lệch hướng bởi cảm xúc, suy nghĩ chủ quan và tác động của đám đông tạo thành kỳ vọng bất hợp lý cho việc thực hiện trong tương lai của các công ty và nền kinh tế tổng thể.
Hành vi của nhà đầu tư là một phần trong tài chính hành vi, lý thuyết này giúp giải thích làm thế nào những cảm xúc, các lỗi nhận thức, tâm lý bầy đàn ảnh 5 hưởng đến các nhà đầu tư và quá trình ra quyết định. Do thực tế là mọi người không phải lúc nào cũng hợp lý, quyết định tài chính của họ có thể được điều khiển bởi các định kiến hành vi. Vì vậy, điều quan trọng nghiên cứu tài chính hành vi để xác định ảnh hưởng của những thành kiến hành vi. Nó sẽ là quan trọng hơn nếu lỗi nhận thức của họ ảnh hưởng đến giá và không thể thực hiện được arbitraged dễ dàng (Kim và Nofsinger, 2008).
Giữa những năm 1980 được coi là sự khởi đầu của nghiên cứu. Thị trường chứng khoán đã được chứng minh là phản ứng thái quá với thông tin theo DeBondt và Thaler (1985). Hơn nữa, Shefrin và Statman (1985) khẳng định các cổ đông có xu hướng bán cổ phiếu chiến thắng của họ nhiều. Barberis và Thaler (2003) được coi là một trong những nhà văn nổi tiếng đã cung cấp một nghiên cứu tuyệt vời về các loại khác nhau của những lý thuyết hành vi có ảnh hưởng đến việc ra quyết định cũng như các thị trường tài chính.
Những bài nghiên cứu tài chính hành vi chủ yếu dựa trên dữ liệu của các cổ phiếu không phù hợp với lý thuyết thị trường hiệu quả và mô hình định giá tài sản. Vì vậy, một số đối thủ chỉ trích rằng họ có một khởi đầu chậm chạp và dường như ít thuyết phục được các đối tượng có xu hướng hoài nghi ban đầu. Sự hạn chế này được loại bỏ bằng cách sử dụng dữ liệu các nhà đầu tư cá nhân. Trong nhiều nghiên cứu, cho thấy các nhà đầu tư cá nhân bị ảnh hưởng bởi những lý thuyết hành vi khác nhau (Kim và Nofsinger, 2008).
Sau đó, những lý thuyết hành vi đang được thử nghiệm bởi nhiều nhà nghiên cứu, một trong số họ là Hirshleifer (2001), những người cung cấp bằng chứng thực nghiệm về định giá tài sản. Tuy nhiên, chỉ có vài thí nghiệm đã được áp dụng để kiểm tra 6 lý thuyết tài chính hành vi, mặc dù môi trường có thể dễ dàng kiểm soát bởi các thí nghiệm được thiết kế tốt (Kim và Nofsinger, 2008). Mặc dù tài chính hành vi vẫn còn là một chủ đề gây tranh cãi, nhưng các nhà phân tích tài chính đã có sự hiểu biết tốt hơn về hành vi con người, và nó cũng được chấp nhận rằng những hành vi này có thể ảnh hưởng đến quyết định tài chính. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đồng ý rằng kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) là hạn chế (Shleifer và Vishny, 1997), do đó, những hành vi này có thể ảnh hưởng đến giá cả.
Trong khi đó, nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính hành vi đã tăng cường kiến thức về thị trường tài chính, dẫn đến nhiều hứa hẹn trong tương lai. Gần đây, các chủ đề về tài chính hành vi được đề cập nhiều trong các hội nghị tài chính có tham dự của những nghiên cứu sinh và các giáo sư ở các trường Đại học (Kim và Nofsinger, 2008). Thaler (1999) mong muốn các nghiên cứu tài chính hành vi mang lại mô hình nữa để nghiên cứu thêm về tài chính doanh nghiệp, và ngày càng có nhiều dữ liệu hơn đối với các nhà đầu tư cá nhân trong tương lai nói chung và các nhà đầu tư trên thị trường Châu Á nói riêng.2 Ảnh hưởng của tâm lý bầy đàn trong quyết định đầu tư: Tâm lý bầy đàn là một hiện tượng được công nhận rộng rãi trong nghiên cứu tài chính hành vi. Nhiều người tin rằng, suy nghĩ theo nhóm thường có những quyết định chính xác hơn từng cá nhân riêng lẻ.
Trong lịch sử, học thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith cũng đã đề cập về sự sáng suốt của hành vi đám đông trong nền kinh tế thông qua cơ chế bàn tay vô hình. Tuy nhiên, như đã đề cập, thị trường nói chung không phải lúc nào cũng đưa ra các quyết định có 7 tính duy lý và định giá chính xác với giá trị thực của hàng hóa. Trong một tác phẩm nổi tiếng về tâm lý học đám đông – The Crowd: A study of popular mind của Gustavc Le Bon đã kết luận rằng “Trong đám đông người ta chỉ càng ngu đốt chứ không hề khôn ngoan hơn”. Có vẻ nhiều nhà đầu tư chưa biết qua đạo lý này.
Khi giá cả thị trường tăng với tốc độ chóng mặt mà chỉ dựa vào hành vi đám đông thường không thể chống đỡ nổi trước sự hấp dẫn về tỷ suất sinh lợi. Giá cả có thể tăng liên tục trong thời gian dài nhưng khi có xu hướng chuyển chiều thì cơn chấn động này sẽ dẫn đến một làn sóng bán đổ bán tháo và để lại những hậu quả rất khóc liệt cho nhà đầu tư; đặc biệt là những ai chậm chân hơn. Vậy liệu tâm lý bầy đàn có tồn tại không? Sau đây là một vài các nghiên cứu cũng như các tranh luận của các tác giả khác nhau nhìn nhận vấn đề này. Shiller và Pound (1986) đã sử dụng phương pháp khảo sát để kiểm tra sự hiện diện của tâm lý bầy đàn đối với nhà đầu tư tổ chức.
Họ nhận thấy rằng hầu hết các nhà đầu tư đã dựa vào lời khuyên của các chuyên gia khi đưa ra quyết định đầu tư.