CHƯƠNG 1 TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU Các chuyên gia sinh thái học đã khẳng định rừng là một HST hoàn chỉnh nhất, tái sinh là một trong những quy luật quan trọng trong quá trình. hình thành và phát triển của thảm thực vật rừng. Nghiên cứu các đặc điểm tái sinh rừng ty nhiên đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến. Ngoài nước Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên trên thé giới đã trải qua hàng trăm năm nhưng đối với rùng nhiệt đới mới chi đễ Cập đến từ những năm 1930 trở lại đây.
“Theo quan điểm của các nhà nghiên. cứu lâm học,hiệu quả cúa tái sinh. rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố, Vai trò của cây con là thay thé cây già obi, vi vay 'hiểu theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quế trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là ting cây gỗ. 'Kết quá nghiên cứu được tóm tắt như sau: Ba số các nhà lâm nghiệp cho rằng, trong nghiên cứu tái sinh rừng cần phải xem xét quá trình tối sinh kế từ khi hình thành cơ quan sinh sản, sự hình thành hoa, quả, các tác cba plvdn tán bạt, sự phù hợp của mùa vụ hạt giống với điều kiện khi hậu.
Phần lớn các nhà lâm học Liên Xô cũ lại đề nghị chỉ nên nghiền cứu quá trình tái sinh rimg bắt đầu từ cây có hoa quả, thậm chí từ thời gian cây mạ trở di [6]- Cac nhà nghiên cứu đều có chung một quan điểm là: Hiệu qua tái sinh. rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng. cây con, đặc điểm phân bố và độ dài của của thời kỳ tái sinh rừng. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh va ting cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbread, 1930; Richards, 1933; 1939; ‘Aubresville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Jones, 1955 — 1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) [45].
Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn lâm sinh người ta chỉ tập trung khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định. _Về phương pháp điều tra tái sinh, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy 6 mẫu hình vuông theo hệ thống do Lowdermilk (1972) đề nghị, với diện tích 6 dạng ‘ban thông thường từ 1 : 4mẺ. Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác gid đề nghị sử đụng. phương pháp điều tra dải hẹp với các ô đo đếm có điện tích biến động từ 10 + 100m", Phé biến nhất là bố trí theo hệ thống trong các diện tích nghiên cứu từ 025 + 1,0 ha (Povamixbun, 1934; Yurkevich, 1938).
Phương pháp này trong, điều kiện tái sinh sẽ khó xác định được quy luật phân bố hình thái của lớp cây tái. sinh trên mặt đắt rừng. Để giảm sai số trong khi thống kê, Bamard (1950) đã đề nghị phương pháp “Điểu tra chẩn đoán”, theo đó kích thước ô đo đếm có thé thay đối tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau [24]. Phương pháp này được ấp dụng nhiều hơn vì nó thích hợp cho từng đổi tượn rừng cụ g thể Khi nghiên cứu ở Châu Phí A.Obrevin (1938) nhận thấy, cây con của những loài cây ưu thé trong rừng có thể cực hiểm hoặc vắng hẳn.
Day là hiện tượng không sinh con dé Giles cây mẹ trong rừng mưa. Mặt khác trong rùng mua tổ thành rùng thờ Thấy đổi theo không gian và thời gian, ngay cả trong cùng một địa điểm, cùng một thời gian nhất định, tỗ hợp các cây sẽ được thay thế bằng tổ hợp loài cây khác hẳn. Nếu xét trên điện tích nhỏ, tổ hợp loài cây tái sinh không mang tính chất kế thừa. Nhưng nếu xét trên một phạm vĩ rộng, thì tổ hợp các loài cây sẽ thừa kế nhau theo phương thức trần hoàn.
Thành công của A. Obrevin đã khái quát được hiện tượng bức khảm tái sinh. Ong coi đó là “Hiện tượng thuần tuý: ngẫu nhiên”. 'Vansteenis (1956) [45] khi nghiên cứu về rừng mưa đã nhận xét, đặc điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến đặc điểm tái sinh phân tần liên tục.
Ngược lại, tii sinh phân tin liên tục ở rừng mưa lại là tiền đề để tạo thành một rừng mưa hỗn loài khác tuổi. Tổ thành những loài cây tái sinh mọc ở lỗ trống là n hững loài cây wa sáng mọc nhanh, đời sống. tổ thành rừng, mà nguồn gốc có thể là do chim, ngắn, không có mặt trong những động vật từ xa mang tới. Tỷ lệ cây wa sing tỷ lệ thuận với kích tỷ lệ cây tra sáng cảng, thước lỗ trống, tức là kích thước lỗ trông cảng lớn, thì nhiễu.
Đây là loài cây tiên phong lảm nhiệm vụ hàn gắn các lỗ trống ở trong rừng. Sau khi các loài cây wa sáng tạo ra bồng, cấy tái sinh của những loài cây chịu bồng có trong thành phẩn của rừng nguyên sinh xuất hiện, vươn lên thay thé các loài cây wa sáng. Khi nghiên cứu rimg nhiệt đới ở Châu A, tác gid cho. thấycó hai đặc điểm tái sinh phổ biến, đó là tái sinh vật và tái sinh phân tán liên tye.
Bemard Rollet (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố tai sinh i nhận xét. Trong các OTC có kíêh thước nhỏ (1 x Im); (I x 1,5m) cây tái sinh. có dạng phân bố cụm, một ít có dạng phân bố Poisson, Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu thu thập, Taylor (1954), và Bemad (1955) cho thấy số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đói bị thiếu hụt, cần phải bổ sung thêm bằng trồng nhân điều ta, đồàh ĐI tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đối M. Loeschau (1977) [23] đã đưa ra một số để nghị để đánh giá một khu rừng có tái sinh đạt yêu cầu hay không phải áp dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tng quát về mật độ tái sinh như nơi có lượng cây tái sinh rit lớn.
Từ những tính toán về sai số cũng, như về mặt tổ chức thực hiện thi các 6 được chọn là những 6 vuông có diện tích là 25m dé dàng xác lập bằng gậy tre. Các 6 đo đếm được xác lập theo. từng nhóm, mỗi nhóm gồm 4 ô bế trí liên tiếp theo kiểu phân bố hệ thống không đồng đều. Như vậy, các 8 vim đại điện được đầy đủ todn bộ khu vực điều tra, và những nhân tố điều tra vừa có dang gần với phân bó chuẩn.
ac điểm tái sinh rừng cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc. biệt là thé hệ cây tái sinh có tổ thành giống khác biệt với tổ thành ting cây cao. (Mibbread ~ 1940; Richard ~ 1944, 1949, 1965; Baur— 1964; Rollet.) Trong số các công trình nghiên cứu của các tác giả về phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu của P. Ở Châu Phi, trên co sở số liệu thu thập, Taylor (1954), Bennard (1955) xác định các cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, cin phải bổ sung bằng cách trồng rừng.
giả nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đổi Châu A , như Budowski (1956), Bara (1954), Catinott (1965) | ai có nhận định rằng: Dưới tán rùng nhiệt đới, nhin chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế. Do vậy, các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ cây tái sinh sẵn có dưới tin rừng.Các nhà nghiên cứu đều có quan điểm thống nhất là nghiên cứu tái sinh rừng là nhằm xác định được mật độ, 18 thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con v. Để xác định snật độ e@y con ta dùng các phương pháp: Ô dang ban (điện tích 1 +4m?), dai hẹp và ô có kích thước lớn (10 +100m?). nhất là cách dùng phươrig pip thống kê từng phần bằng cách đặt các6 dang bản trong 6 thí nghiện: 8.5 “1 ha (Povamixhun, 1934; Yurkevich, 1938.G Jexterov (1954 - 1968) đề nghị dùng 15 +26 6 kích thước 1 + 2m thống.
kê cây con tuổi nhỏ hơn 5 năm 10 + 15 ô kích thước 4 +5mÊ thống kê cây con tuổi 5 ~ 10 năm.Belov (1983) nhắn mạnh phải áp dụng thống kê toán học. để điều tra và đánh giá ti sinh [35]. Việc phần tích chỉ tiết lý luận các phương pháp thống kẻ toán học trong điều tra và đánh giá tái sinh rừng đã được trình bày rõ trong các công tình của Greig Smith, 1967 và ‘V. nhanh mật đọ và phân bố cây theo diện tích có thể dùng chỉ tiêu độ thường gập (Marunov, 1984).
Các công trình nghiên cứu trên đây phần nào đã làm sáng tỏ đặc điểm. ‘va cách tiếp cận tái sinh tự nhiên. Tuy nhiên vì rừng mưa nhiệt đới luôn tồn. tại những quy luật hết sức phức tạp, do vậy việc nghiên cứu vềtái sinh rừng.
đới nói chung vẫn chưa thật đầy đủ và hệ thống cho từng loại rừng cy 1.2, Trong nước Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những. năm 1960, Các kết quả nghiên cứu vé tái sinh tới chỉ đề cập trong các công. trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học hoặc công bố, trên các tạp chí lâm nghiệp. Nỗi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1963, 1978) [39] về “Thảm thực vật rừng Việt Nam”.
Ông đã nhắn mạnh ảnh sing 14 nhân 16 sinh thái khống chế va điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh và thứ sinh. Khi đánh giá hiện trang tai sinh của một khu rừng thứ sinh người ta lưu. ý đến thành phần tham gia cil các cây con thuộc các loài cây gỗ có giá trị. CChi khi thành phan than) gia của các loài cây gỗ có giá trị đạt được một mức độ não đó thì tái sinh tự nbich mới được đánh giá là đủ.
Từ trước đến nay người ta đánh giá tái sink f nhiên bằng cách thống kê thành phần loài của một nhóm đường kính nhất định. Như vậy, hiện trạng tái sinh tự nhiên của các. loi gỗ có giá trị được đánh giá chỉ dựa trên số cây thuộc các loại cây gỗ có. gia trị được đánh giá chỉ dựa trên số cây thuộc các loài cây gỗ có giá trị nằm.
trong một nhóm kích thước nào đó. Tuy nhiên, trên các diện tích đất rừng sản xuất nhất là các diện tích rừng áp dụng biện pháp khai thác chọn thi sự có mặt của các cá thể loài cây gỗ có giá trị thuộc nhiều nhóm kích thước khác nhau là điều tắt yếu.