Tổng quan nghiên cứu

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò thuộc tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên 6.462,2 ha, trong đó diện tích đất có rừng đạt 4.850,1 ha với địa hình núi đá vôi hiểm trở, độ cao dao động từ 200 m đến 1.526 m. Khu vực này là nơi sinh sống của 11.188 nhân khẩu thuộc 2.320 hộ gia đình, trong đó dân tộc Mường chiếm 43,2% và dân tộc H'Mông chiếm 44,4% dân số. Trong bối cảnh cả nước đã thống kê được khoảng 3.849 loài cây thuốc trên tổng diện tích 333.000 km2, nguồn tri thức bản địa về thảo dược của các cộng đồng thiểu số đóng vai trò sống còn trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường, áp lực khai thác tài nguyên rừng và tình trạng già hóa của các ông lang, bà mế đang khiến tri thức sử dụng cây thuốc dân gian đối mặt với nguy cơ mai một nghiêm trọng.

Nghiên cứu được triển khai nhằm mục tiêu tập hợp có hệ thống danh lục thực vật làm thuốc, đồng thời đánh giá toàn diện mức độ đa dạng về taxon, dạng sống, môi trường phân bố, bộ phận sử dụng và phổ bệnh điều trị của đồng bào dân tộc Mường. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các loài thực vật bậc cao có mạch tại 5 xã vùng đệm và vùng lõi gồm Hang Kia, Pà Cò, Tân Sơn, Cun Pheo và Bao La trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận 405 loài cây thuốc thuộc 284 chi và 116 họ, chiếm tới 10,52% tổng số loài cây thuốc của cả nước dù diện tích khu bảo tồn chỉ tương đương 0,19% diện tích toàn quốc. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học chuẩn xác phục vụ chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế dược liệu bền vững tại vùng Tây Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân loại học thực vật hiện đại kết hợp với phương pháp nghiên cứu thực vật dân tộc học (Ethnobotany). Hệ thống phân loại của Takhtajan và bộ sách Danh lục các loài thực vật Việt Nam được sử dụng làm chuẩn mực để định danh và sắp xếp các bậc taxon từ ngành đến loài. Mô hình phân loại bệnh học của Lê Trần Đức (1997) với 13 nhóm bệnh cơ bản được áp dụng để chuẩn hóa các chứng bệnh theo y học cổ truyền. Đánh giá tính nguy cấp của các loài thực vật căn cứ vào ba khung pháp lý và tiêu chuẩn bảo tồn chính: Sách đỏ Việt Nam năm 2007, Danh mục đỏ cây bị đe dọa của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN 2009) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Các khái niệm cốt lõi vận hành xuyên suốt đề tài bao gồm:

  • Tri thức bản địa về cây thuốc: Hệ thống hiểu biết, kinh nghiệm thực hành thu hái, chế biến và phối ngũ dược liệu được cộng đồng người Mường tích lũy và lưu truyền qua nhiều thế hệ.
  • Đa dạng taxon thực vật: Mức độ phong phú và tỷ lệ phân bố của các đơn vị phân loại học (ngành, lớp, họ, chi, loài) trong một hệ sinh thái cụ thể.
  • Dạng sống thực vật: Hình thái thích nghi cấu trúc sinh trưởng của loài cây đối với điều kiện môi trường sống, chia thành thân gỗ, thân bụi, thân thảo và thân leo.
  • Sinh cảnh phân bố: Các kiểu môi trường sinh thái đặc trưng nơi cây thuốc sinh trưởng, từ rừng nguyên sinh trên núi đá vôi đến vườn nhà.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ phương pháp điều tra thực địa theo tuyến, phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) và kỹ thuật xử lý mẫu tiêu bản phòng thí nghiệm. Cỡ mẫu điều tra bao gồm 12 tuyến khảo sát thực địa cắt ngang qua các sinh cảnh đại diện tại 5 xã: Cun Pheo (2 tuyến), Hang Kia (2 tuyến), Pà Cò (6 tuyến), Bao La (1 tuyến) và Tân Sơn (2 tuyến). Trên mỗi tuyến, phạm vi quan sát mở rộng 10 m sang mỗi bên; mỗi loài cây thuốc tiến hành thu thập từ 5 đến 6 mẫu tiêu bản chuẩn. Đồng thời, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 5 lương y, ông lang, bà mế tiêu biểu gồm ông Bạch Chí Tình, bà Quách Thị Đông tại xã Tân Sơn, bà Bùi Thị Lương tại xã Pà Cò, bà Bùi Thị Lý và bà Quách Thị Thái tại xã Hang Kia.

Mẫu thực vật tươi sau khi thu thập được xử lý sơ bộ ngoài thực địa, tiếp tục chuyển về Phòng Thực vật thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật để sấy khô, ngâm tẩm bằng dung dịch cồn chứa 0,3% đến 0,5% HgCl2 nhằm diệt nấm mốc và bảo quản tiêu bản trên bìa cứng quy cách 28 cm x 42 cm. Phương pháp chuyên gia và các khóa tra cứu thực vật chuyên khảo được áp dụng để xác định chính xác danh pháp khoa học. Tọa độ các loài quý hiếm được định vị trực tiếp bằng thiết bị GPS cầm tay nhằm phục vụ xây dựng bản đồ phân bố không gian. Việc lựa chọn phương pháp phân tích này giúp liên kết chặt chẽ giữa dữ liệu dân tộc học với các bằng chứng thực vật học có độ tin cậy cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã xác định được 405 loài cây thuốc thuộc 284 chi của 116 họ thuộc 4 ngành thực vật bậc cao có mạch. Ngành Hạt kín (Angiospermae) chiếm ưu thế áp đảo với 385 loài (95,06%), 271 chi (95,42%) và 106 họ (91,38%). Trong ngành Hạt kín, lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) chiếm 334 loài (86,75%), trong khi lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) chỉ chiếm 51 loài (13,25%). Ba họ có số lượng loài phong phú nhất là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 32 loài, họ Cúc (Asteraceae) với 22 loài và họ Cà phê (Rubiaceae) với 21 loài. Về bậc chi, chi Sung vả (Ficus) chiếm số lượng lớn nhất với 8 loài, tiếp đến là chi Cà (Solanum) với 5 loài.

Về cấu trúc dạng thân, cây thân thảo chiếm tỷ trọng cao nhất với 124 loài (30,62%), tiếp theo là cây thân bụi với 110 loài (27,16%), cây thân gỗ với 93 loài (22,96%) và cây thân leo với 78 loài (19,26%). Phân tích môi trường sống cho thấy có tới 286 loài (70,62%) xuất hiện ở rừng thứ sinh, 191 loài (47,62%) ở rừng cây bụi, 178 loài (43,95%) ở bãi hoang, bờ ruộng, 152 loài (37,53%) ở rừng nguyên sinh bị tác động, trong khi chỉ có 48 loài (11,85%) được trồng trong vườn nhà. Tổng số loài sinh trưởng trong các trạng thái rừng tự nhiên được bảo vệ nghiêm ngặt lên tới 292 loài, chiếm 72,10% tổng số cây thuốc ghi nhận.

+-----------------------------------------------------------------------+
| PHỔ BỆNH ĐIỀU TRỊ CHÍNH BẰNG CÂY THUỐC CỦA DÂN TỘC MƯỜNG              |
| (Tỷ lệ % loài cây thuốc sử dụng trên tổng số 405 loài)                |
|                                                                       |
| Tiêu hóa:             [29.88%]  (121 loài)                            |
| Tiết niệu & Gan mật:  [24.44%]  (99 loài)                             |
| Đau nhức xương khớp:  [14.32%]  (58 loài)                             |
| Trẻ em:               [12.59%]  (51 loài)                             |
| Ngoài da:             [11.85%]  (48 loài)                             |
| Sinh dục:             [11.60%]  (47 loài)                             |
| Phụ nữ:               [10.86%]  (44 loài)                             |
+-----------------------------------------------------------------------+

Về bộ phận sử dụng, lá cây là bộ phận được khai thác nhiều nhất với 171 loài (42,22%), kế đến là toàn cây với 144 loài (35,55%), thân và vỏ thân với 106 loài (26,17%), rễ và củ với 69 loài (17,03%). Phổ trị bệnh thể hiện tính đa dạng cao với 13 nhóm bệnh, trong đó nhóm bệnh tiêu hóa chiếm vị trí số một với 121 loài (29,88%), tiếp theo là nhóm bệnh tiết niệu và gan mật với 99 loài (24,44%), và các bệnh đau nhức cơ xương khớp với 58 loài (14,32%). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện 13 loài cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng (chiếm 3,21%), bao gồm 4 loài ở cấp Nguy cấp (EN) theo Sách đỏ Việt Nam là Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus), Kim tuyến đá vôi (Anoectochilus calcareus), Cốt toái bổ (Drynaria bonii), Cây bảy lá một hoa (Paris polyphylla); 7 loài ở cấp Sẽ nguy cấp (VU); và 1 loài thuộc danh mục cấm khai thác thương mại nhóm IA (Kim tuyến đá vôi).

Thảo luận kết quả

Cơ cấu phân bố các nhóm bệnh phản ánh sâu sắc điều kiện sinh hoạt và tập quán ẩm thực của đồng bào Mường tại vùng núi cao. Tỷ lệ cây thuốc chữa tiêu hóa (29,88%) và gan mật (24,44%) chiếm tỷ trọng áp đảo bắt nguồn từ thói quen ăn uống đồ sống, uống nước khe suối chưa qua xử lý tiệt trùng và điều kiện bảo quản thực phẩm hạn chế. Việc lá cây và toàn thân thảo chiếm tần suất sử dụng cao nhất (lần lượt 42,22% và 35,55%) chứng minh tính bền vững sinh học trong kinh nghiệm dân gian, bởi việc thu hái lá và thân cây cỏ không làm hủy hoại hoàn toàn cá thể cây như phương thức đào rễ hoặc bóc vỏ cây gỗ.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn biểu diễn tỷ lệ 4 dạng thân và biểu đồ cột so sánh mức độ đa dạng loài giữa 7 kiểu môi trường sống. Đáng chú ý, tỷ lệ loài cây thuốc chỉ tìm thấy trong rừng tự nhiên (72,10%) cao gấp 6 lần số loài trồng trong vườn nhà (11,85%). Điều này cho thấy tính lệ thuộc gần như tuyệt đối của tri thức y học dân gian vào hệ sinh thái rừng tự nhiên. So sánh với các nghiên cứu tại Chiềng Yên - Sơn La (thống kê 209 loài cây thuốc người Mường), số lượng 405 loài tại Hang Kia – Pà Cò cao gần gấp đôi, chứng tỏ tính đa dạng sinh học và kho tàng tri thức bản địa vượt trội của khu bảo tồn này.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá hiện trạng tài nguyên và nguy cơ suy thoái nguồn gen, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất triển khai cụ thể như sau:

  1. Thiết lập vùng bảo tồn ngoại vi và nhân giống loài nguy cấp: Ban Quản lý Khu Bảo tồn phối hợp với Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật xây dựng vườn ươm bảo tồn chuyển chỗ (ex situ) quy mô 2 ha trong giai đoạn 2024-2026. Mục tiêu nhân giống thành công và tái di thực ít nhất 80% số cá thể của 4 loài nguy cấp gồm Kim tuyến đá vôi, Bảy lá một hoa, Đảng sâm và Ngũ gia bì gai về lại sinh cảnh tự nhiên.
  2. Quy hoạch vùng trồng dược liệu bản địa dưới tán rừng: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Mai Châu triển khai mô hình nông lâm kết hợp trên diện tích 20 ha tại các xã Tân Sơn và Bao La giai đoạn 2024-2027. Mục tiêu nâng tỷ lệ cây thuốc được trồng trong vườn nhà từ 11,85% lên tối thiểu 25%, tạo sinh kế bền vững giúp giảm áp lực khai thác rừng tự nhiên cho hơn 500 hộ gia đình.
  3. Số hóa và pháp lý hóa tri thức y học dân gian: Sở Y tế và Hội Đông y tỉnh Hòa Bình chủ trì đề án tổng kiểm kê, tư liệu hóa toàn bộ các bài thuốc gia truyền của 5 xã trong giai đoạn 2024-2025. Tiến hành đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tập thể đối với các bài thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa và gan mật đặc hữu của người Mường.
  4. Tăng cường tuần tra, kiểm soát bằng công nghệ định vị: Hạt Kiểm lâm Hang Kia – Pà Cò định kỳ ứng dụng phần mềm SMART và dữ liệu GPS cắm mốc bảo vệ các quần thể cây thuốc quý từ năm 2024 đến 2030. Đặt mục tiêu giảm 90% các vụ thu hái trái phép thương mại đối với các loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP như Bình vôi, Củ dòm và Thông đỏ lá ngắn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Ứng dụng mô hình điều tra theo tuyến và sơ đồ phân bố GPS để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ.
  2. Các nhà nghiên cứu Dược học và Thực vật học: Sử dụng danh lục 405 loài cây thuốc làm dữ liệu gốc để định hướng nghiên cứu chiết xuất hoạt chất, phân lập hợp chất tự nhiên và sàng lọc tác dụng sinh học trên các loài tiềm năng như chi Ficus, chi Solanum và chi Croton.
  3. Doanh nghiệp Dược phẩm và Hợp tác xã nông nghiệp: Khai thác thông tin về điều kiện sinh thái, phổ bệnh trị liệu và dạng sống thực vật để lập dự án liên kết sản xuất vùng trồng dược liệu sạch đạt tiêu chuẩn GACP-WHO tại các xã vùng cao tỉnh Hòa Bình.
  4. Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Y học cổ truyền: Tham khảo khung phương pháp luận điều tra thực vật dân tộc học (PRA kết hợp định danh phân loại học), cách thức xử lý mẫu vật tiêu bản và tiêu chuẩn phân loại bệnh học chuẩn xác.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao đồng bào Mường tại Hang Kia – Pà Cò có số lượng cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa nhiều nhất? Khu vực ghi nhận 121 loài (29,88%) chữa tiêu hóa do đặc thù vùng cao dùng nước suối tự nhiên và các món ăn từ rau rừng chưa qua xử lý nhiệt triệt để. Các cây thuốc như Rau mơ tam thể, Hàm ếch hay chi Ba đậu (Croton) chứa hàm lượng cao flavonoid và tannin giúp kháng khuẩn đường ruột, làm săn niêm mạc và giảm nhanh các triệu chứng đau bụng, đi lỏng.

Những loài cây thuốc nào tại khu vực đang đối diện với nguy cơ tuyệt chủng cao nhất? Nghiên cứu xác định 4 loài ở cấp Nguy cấp (EN) gồm Kim tuyến đá vôi, Ngũ gia bì gai, Cốt toái bổ, Bảy lá một hoa và 1 loài thuộc Nhóm IA cấm khai thác thương mại. Các loài này bị săn lùng ráo riết do giá trị thương phẩm cao trên thị trường dược liệu, kết hợp với môi trường sống chuyên biệt trên vách núi đá vôi rất dễ bị tổn thương.

Phương thức sử dụng bộ phận nào của cây thuốc mang lại tính bền vững cao nhất cho hệ sinh thái? Thu hái lá cây (chiếm 171 loài, 42,22%) và cành nhánh nhỏ là phương thức thân thiện nhất với môi trường rừng. Khác với việc khai thác rễ, củ (69 loài, 17,03%) hoặc bóc vỏ thân cây gỗ dễ làm chết cây mẹ, việc hái lá có chu kỳ giúp cây thuốc tiếp tục quang hợp, tái sinh chồi non và bảo tồn được nguồn gen cá thể.

Tỷ lệ phân bố cây thuốc trong tự nhiên và vườn nhà phản ánh thực trạng gì? Khoảng 72,10% số loài chỉ sinh trưởng trong rừng tự nhiên và chỉ 11,85% có mặt trong vườn nhà. Con số này phản ánh đồng bào vẫn giữ tập quán thu hái tự nhiên phụ thuộc hoàn toàn vào rừng, đồng thời cảnh báo nếu rừng bị suy thoái thì nguồn dược liệu bản địa sẽ biến mất hoàn toàn.

Quy trình xử lý tiêu bản thực vật trong nghiên cứu được thực hiện ra sao để đảm bảo tính pháp lý học thuật? Các mẫu cây thu thập theo tuyến được sấy khô, ngâm tẩm cồn chứa 0,3% đến 0,5% HgCl2 để chống côn trùng và nấm mốc phá hoại, sau đó khâu cố định trên bìa cứng 28 cm x 42 cm. Tên khoa học được thẩm định trực tiếp tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật dựa trên các bộ Thực vật chí chuẩn quốc gia.

Kết luận

  • Thống kê toàn diện 405 loài cây thuốc thuộc 284 chi, 116 họ của 4 ngành thực vật có mạch, trong đó ngành Hạt kín chiếm tỷ trọng ưu thế tuyệt đối với 95,06% tổng số loài.
  • Cây thân thảo chiếm tỷ lệ lớn nhất (30,62%), môi trường rừng thứ sinh lưu giữ nhiều loài nhất (70,62%), và lá cây là bộ phận được thu hái phổ biến nhất (42,22%).
  • Xác định phổ bệnh phong phú với 13 nhóm bệnh, dẫn đầu là nhóm bệnh về tiêu hóa (121 loài) và nhóm bệnh tiết niệu, gan thận (99 loài).
  • Phát hiện 13 loài cây thuốc quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn khẩn cấp theo Sách đỏ Việt Nam và Nghị định 32/2006/NĐ-CP, bao gồm Kim tuyến đá vôi, Củ dòm, Bảy lá một hoa và Thông đỏ lá ngắn.
  • Công trình đã xây dựng thành công luận cứ khoa học thực chứng đầu tiên về tri thức sử dụng cây thuốc của người Mường tại Hang Kia – Pà Cò, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên rừng quốc gia.

Các cơ quan quản lý và đơn vị nghiên cứu cần khẩn trương phối hợp triển khai đề án quy hoạch vùng đệm, ứng dụng công nghệ nhân giống mô hom cho các loài nguy cấp trong lộ trình 2024-2027. Hãy chung tay hành động bảo vệ hệ sinh thái rừng Hang Kia – Pà Cò nhằm gìn giữ kho tàng y dược bản địa vô giá cho các thế hệ tương lai.