MỞ ĐẦU Bỏng là một loại chấn thương do vô ý tiếp xúc với các chất có nhiệt độ cao, bao gồm chất lỏng, rắn nóng và các vật thể tỏa nhiệt năng, gây ra mức độ cao không chỉ đối với người nhà bệnh nhân mà còn đối với hệ thống y tế quốc gia trên toàn cầu [14].122 trường hợp mới bị bỏng đã được xác định trên toàn cầu trong năm 2019 [14]. Bỏng nhiệt là loại bỏng thường gặp nhất, chiếm 84 – 94% tổng số trường hợp bị bỏng [4]. Tổn thương bỏng thường xảy ra ở vị trí tiếp xúc trực tiếp với tác nhân gây bỏng; dựa theo đặc điểm tổn thương, gồm: diện tích, độ sâu tổn thương, bỏng được phân thành 4 mức độ [4]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nhận định bỏng là nguyên nhân chấn thương hàng đầu và chịu trách nhiệm cho hơn 300.000 ca tử vong mỗi năm [46],[71].
Ở Việt Nam, tai nạn bỏng đứng hàng thứ hai chỉ sau tai nạn giao thông với 800.000 bệnh nhân hàng năm [2]. Mục tiêu quan trọng nhất trong điều trị bỏng là ngăn chặn tình trạng nhiễm khuẩn tại chỗ, thúc đẩy quá trình lành tổn thương bỏng và tránh để lại sẹo sau khi khi phục hồi tổn thương [4]. Nhằm phòng tránh nhiễm khuẩn ở vị trí tổn thương bỏng, có nhiều loại thuốc, chất kháng khuẩn được bào chế, ứng dụng trên lâm sàng để điều trị bỏng như: sulfadazin bạc, sulfamlon, nitrat bạc hoặc ceri nitrate. Các dược chất kháng khuẩn tại chỗ được sử dụng để điều trị tổn thương bỏng nhằm giảm số lượng trường hợp bội nhiễm, nhiễm khuẩn huyết và tử vong do bỏng [4].
Hiện một số thuốc trị bỏng y học cổ truyền đã được nghiên cứu, dựa trên cơ sở khoa học và được ứng dụng trong lâm sàng như: mỡ Maduxin từ cây Sến, Mật ong, Chitosan; hay các thuốc bôi chứa thành phần Nha đam [4],[16],[25],[81]. Các chế phẩm thảo dược có nguồn gốc từ nước ngoài thường có tác dụng tương đối tốt nhưng thường có chi phí cao; khó phù hợp với đa số bệnh nhân trong nước. Việc tìm kiếm các thuốc mới từ nguồn 2 nguyên liệu sẵn có trong nước, có trữ lượng dồi dào, giá thành hợp lý, tác dụng điều trị tổn thương bỏng tại chỗ tốt luôn được đặt ra trong công tác điều trị bỏng. Lá Thuốc bỏng vốn đã được sử dụng từ lâu trên Thế giới [48].
Theo đó, cây lá Thuốc bỏng có tác dụng tiêu viêm, giảm đau, tiêu độc, giúp tổn thương bỏng chóng lên da non và vết thương nhanh chóng được chữa lành…[26],[48],[74]. Trước đây, lá Thuốc bỏng thường được giã nát, đắp vào vị trí tổn thương bỏng; và đem lại hiệu quả tốt với các độ bỏng từ 1 đến 2 độ [48]. Lá Thuốc bỏng chứa các hoạt chất như acid malix, oxalic isocitric và các hợp chất phenolic, glycosid flavonoic có tác dụng tốt trong giảm đau, giảm viêm, chống phù nề, kháng khuẩn và tăng lành tổn thương bỏng [10], [48],[63]. Tuy được sử dụng từ rất lâu trong dân gian để điều trị bỏng, nhưng đến nay, tại Việt Nam vẫn chưa có một nghiên cứu thực nghiệm nào đánh giá về hiệu quả của lá Thuốc bỏng.
Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu tác dụng sinh học của cao xoa chứa thành phần chính lá Thuốc bỏng Kalanchoe pinnata (Lam. trên mô hình động vật thực nghiệm gây bỏng” với các mục tiêu sau: 1. Đánh giá độc tính tại chỗ của cao xoa có thành phần lá Thuốc bỏng trên thỏ. Khảo sát mô hình gây bỏng và xác định tác dụng làm lành tổn thương bỏng của cao xoa chứa thành phần lá Thuốc bỏng trên mô hình gây bỏng thực nghiệm ở chuột nhắt trắng.