CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (SIDA L. Thực vật học Theo hệ thống phân loại của A. Takhtajan [24], chi Sida L.
có vị trí phân loại như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Phân lớp Sổ (Dilleniidae) Bộ: Bông (Malvales) Họ: Bông (Malvaceae) Chi: Sida L. Loài: Sida cordifolia, Sida rhombifolia, Sida acuta,. gồm khoảng 200 loài cây thân thảo, thuộc họ Malvaceae. Chúng phân bố rộng rãi trên đồng cỏ và đất hoang ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới.
Trong đó, 3 loài Sida phổ biến nhất là S. phân bố chủ yếu ở Châu Á, Châu Phi, Bắc Mỹ, Châu Âu, Trung Mỹ, Carribbean và các quốc gia Nam Mỹ. Các loài thuộc chi Sida thường sống 1 năm hoặc nhiều năm, dạng thân bụi hoặc thân bụi thấp, cao từ 0,5-2 m, hầu hết các bộ phận của cây có lông đa bào hình sao, lông đơn bào hoặc lông tiết. Lá đơn, hình bầu dục cho đến hình mũi mác, mép lá thường có răng cưa.
Hoa đơn độc hoặc cụm 2 hoa mọc ở nách lá phía ngọn cành. Đài hình chuông hoặc chén, chia thành 5 thùy; không có đài phụ. Tràng hoa thường có màu vàng, đôi khi màu trắng hoặc cam. Cánh hoa 5, đều, rời.
Chỉ nhị dạng ống, có lông mịn hoặc nhẵn không dính với cánh hoa. Lá noãn 5-10; mỗi ô một noãn, đính noãn trung trụ. Quả phân, dạng hình đĩa hoặc hình cầu; các phần bế quả 4(5)-10(14), sần sùi hoặc nhẵn, thường có 1 hoặc 2 sừng nhọn ở đỉnh, mọc nhiều lông hoặc không. Hạt trơn, nhẵn, đôi khi có lông ngắn bao quan [24], [80].
Ở Việt Nam, theo “Cây cỏ Việt Nam” tập 1 của GS. Phạm Hoàng Hộ, có 9 loài Sida L. được mô tả (Bảng 1. Một số loài Sida L.
phân bố ở Việt Nam Loài Tên Việt Nam Phân bố Sida acuta Burm f. Chổi đực Dựa lộ, sân trống, đất hoang. Dựa lộ, đất hoang, bình nguyên: Sida cordata (Burm f. Bái trắng Đồng bằng, nơi đất cát.
Nha Trang, Biên Hòa, Đồng Sida javensis Cav. Bái Java Tháp Sida mysorensis Wight & Arn. Bái chùm Đất hoang khô, trảng 1-1000 m Sida rhombifolia L. Ké hoa vàng Dựa lộ, đất hoang, 1-1500 m.
Sida rhombifolia ssp. retusa Bái tà Đất hoang, dựa lộ đến 1200 m. Vùng núi: Lạng Sơn, Sơn La, Sida subcordata Span. Bái lá tim Bảo Lộc Sida supina L'Hér.
Bái ngửa Ninh Bình 1. Loài Sida rhombifolia Tên khoa học: Sida rhombifolia L. Tên thường gọi: Ké hoa vàng, Ké đồng tiền, Bạch bối hoàng, Bái bánh bò. Đặc điểm thực vật: Cây nhỏ dạng bụi, cao chừng 0,5 - 1m.
Thân và cành có lông ngắn hình sao. Lá đơn, mọc cách, hình trứng ngược, bầu dục hoặc trái xoan, đầu nhọn hoặc tù, gốc tròn, kích thước 4-10,2 x 1,8-6,7 cm, bìa lá có răng cưa tròn đỉnh nhọn rõ ở 2/3 trên của phiến lá. Gân lá hình chân vịt, 3-5 gân chính nổi rõ ở mặt dưới, mặt trên rải rác có lông đa bào hình sao màu trắng và lông trắng mảnh, mặt dưới có nhiều lông đa bào hình sao. Lá kèm dạng dải hẹp, rời, dài 0,4-0,5 cm, màu xanh lục hoặc màu xanh phớt nâu đỏ, tồn tại, có nhiều lông đa bào hình sao.
Hoa màu vàng, mọc đơn độc ở kẽ lá, cuống dài có khớp gần đài hoa. Đài 5, dính liền, có lông trắng mềm ở mặt ngoài, lông hình sao ở mặt trong; tràng 5 cánh rời có ít lông ở gốc. không đều, đính trên đế hoa thành 1 vòng, dính nhau ở 2/3 chiều dài chỉ nhị thành 1 ống; hạt phấn hình cầu gai, màu vàng, rời. Lá noãn 8-9, bầu trên 8-9 ô, mỗi ô một noãn, đính noãn trung trụ.
Quả có sừng nhọn; hạt có lông [1], [4], [87]. Hoa nở từ tháng 10-12 hàng năm. Cây thường mọc rải rác hay thành từng đám nhỏ lẫn với các cây bụi ở bãi trống, nương rẫy bỏ hoang, đồi và ven đường đi [1], [4]. Ké hoa vàng là cây ưa sáng, chịu hạn tốt do có bộ rễ khỏe.
Cây có thể sống được trên nhiều loại đất, kể cả loại đất đồi cằn cỗi, ra hoa quả nhiều hàng năm. Khi quả chín, tự mở cho hạt rơi xuống đất. Vỏ quả có gai móc dễ vướng vào quần áo, lông động vật, phát tán xa. Tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt; tái sinh cây chồi khỏe sau khi chặt [87].
Bộ phận dùng: Toàn cây (rễ và phần trên mặt đất) [73]. Đặc điểm hình thái của loài Sida rhombifolia L. Loài Sida cordifolia Tên khoa học: Sida cordifolia L. Tên thường gọi: Bái trắng.
Đặc điểm thực vật: Cây nhỏ, cao đến 2m. Thân, cành, lá và cuống lá có lông đa bào hình sao dày đặc; lông đơn bào dài đến 3 mm. Lá có phiến hình tim ở đáy, 5-7 gân, 2 mặt có lông dày màu trắng, cuống mảnh dài 1-2,5 cm, bìa lá có răng cưa tròn đỉnh nhọn. Hoa đơn độc hoặc mọc thành chùm ở nách lá hay dưới ngọn cành.
Lá đài 5, dính nhau khoảng 1/2 phía dưới thành 1 ống hình chén, thùy hình tam giác 5-6 mm, phủ lông hình sao và lông đơn bào dài. Hoa mẫu 5; cuống hoa 0,5-1,5 cm, phủ lông hình sao và đơn bào, có 1 khớp gần với đài hoa. Cánh hoa màu vàng, cao 7-10 mm. Chỉ nhị dính liền thành ống, dài 6 mm, nhiều lông.
Quả phân 6-10, mỗi phần quả có 2 sừng dài, nhọn, vượt quá đài hoa, có lông. Hạt hình trứng dài, đỉnh có lông [4], [80]. Đặc điểm hình thái của loài Sida cordifolia L. Bộ phận dùng: Toàn cây (rễ và phần trên mặt đất) [36].
Loài Sida acuta Tên khoa học: Sida acuta Burm. Tên thường gọi: Chổi đực, Bái chổi, Bái nhọn. Đặc điểm thực vật: Cây nhỏ, mọc thành bụi tròn, cao 50-70 cm. Thân non màu xanh lục, rải rác có lông đa bào hình sao; thân già màu nâu có nhiều nốt sần.
Lá đơn, mọc cách, hình ngọn giáo hẹp, đầu nhọn, gốc tròn, màu xanh lục, mặt trên đậm hơn mặt dưới, kích thước 4-7 x 1,2-2 cm, bìa có răng cưa tròn đỉnh nhọn rõ ở 2/3 phía trên của phiến lá. Gân lá chân vịt nổi rõ ở mặt dưới với 3 gân chính. Lá kèm dạng dải hẹp, rời, tồn tại. Hoa đều, mẫu 5, cánh hoa màu vàng cam, mọc đơn độc ở kẽ lá, cuống hoa có khớp gần đài hoa.
Lá đài 5, đều, dính nhau khoảng 1/2 phía dưới thành 1 ống hình chén, phía trên chia 5 thùy hình tam giác, tiền khai van, đài tồn tại. Nhị nhiều, không đều, đính trên đế hoa thành 1 vòng, dính nhau ở 2/3 chiều dài chỉ nhị thành 1 ống. Hạt phấn hình cầu gai, màu vàng, rời, đường kính 75 µm. Lá noãn 5-6, bầu trên 5-6 ô, mỗi ô một noãn, đính noãn trung trụ.
Bầu noãn hình cầu dẹt, đường kính 0,15. cm, màu xanh lục nhạt, có nhiều rãnh dọc, phía trên có lông đầu tròn; 1 vòi nhụy dạng sợi đính ở đỉnh bầu; phía trên chia thành 5-6 nhánh dài 0,2 cm, màu vàng, nhẵn, tận cùng mỗi nhánh là 5-6 đầu nhụy dạng khối tròn nhỏ, màu vàng. Quả phân (4-9), hình cầu, các phần quả hình khối, nhiều đường gân dọc 2 bên, có 2 mũi nhọn ở đỉnh. Hạt hình khối tam giác 2 mm, nhẵn bóng ngoại trừ xung quanh rốn hạt [4], [80], [88].
Đặc điểm hình thái của loài Sida acuta Burm. Phân bố, sinh học và sinh thái: Cây của vùng Ấn Độ - Malaysia, mọc hoang dường như phổ biến dọc đường đi, bãi trống vùng đồi núi và cả ở đồng bằng khắp nước ta. Có thể thu hái các bộ phận của cây quanh năm [88]. Bộ phận dùng: Toàn cây (rễ và phần trên mặt đất) [24].
Thành phần hóa học của chi Sida L. Các nghiên cứu về thành phần hóa học của một số loài thuộc chi Sida cho thấy sự hiện diện của nhiều nhóm hợp chất bao gồm: 23 alkaloid, 19 flavonoid, 16 phytoecdysteroid, 5 terpenoid, 4 tocopherol, 3 lignan, 4 coumarin, 12 steroid, 10 phenolic, 22 aliphatic, 4 phaeophytin, 16 acid amin và một số hợp chất khác. Hầu hết các hợp chất này được phân lập từ những bộ phận trên mặt đất (lá, thân, cành) của các loài Sida acuta, S. Trong đó các alkaloid, flavonoid và phytoecdysteroid là những thành phần phong phú nhất và mang lại hoạt tính sinh học chính của cây [24].
Nhóm hợp chất alkaloid Theo các nghiên cứu đã được công bố, có 23 hợp chất alkaloid đã được phân lập từ chi Sida L., chủ yếu là các alkaloid nhân indol, quinazolin, indolizidin và β- phenethylamin (Bảng 1. Các alkaloid phân lập từ chi Sida L. Hợp chất Loài TLTK [29], β-Phenethylamin (1), Ψ-Ephedrin (2), vasicin (3), S- S. cordifolia [79] Aminobutyl)-indol-3-on (14); 2ʹ-(3H-Indol-3yl methyl)-butan-1ʹ-ol (15) 1,2,3,9-Tetrahydro pyrrolo[2,1-b]-quinazolin-3-yl- S.
glutinosa Hypaphorine methyl ester (17). 1 6 5 8 2 9 R H Me R H Me R H Me 17 4 10 16 3 12 R1 CO2Me CO2Me CO2- R1 H H OH + R2 NMe2 NHMe N(Me)3 R2 NH2 OH OH 19 11 15 22 18 20 21 23 R H Me R OMe H Hình 1. Cấu trúc phân tử của một số hợp chất alkaloid phân lập từ chi Sida L. Nhóm hợp chất flavonoid Có tất cả 19 flavonoid thuộc các nhóm flavon, flavonol và glycosid của chúng được phân lập từ một số loài của chi Sida L.
Các flavonoid phân lập từ chi Sida L. Các flavonoid Loài TLTK Chrysin (24), glutinosid (25). cordifolia 8-C-β-D-glucosyl-keampferol-3-O-β-D-glucosyl [78] [1→4]-α-D-glucosid (30), 6-(Isoprenyl)-3′- methoxy-8-C-β-D-glucosyl, keampferol 3-O-β-D- glucosyl [1→4]- α-D-glucosid (31). 24 26 34 35 36 27 28 R1 H H H H Glc R OH H R2 H H H OH OH R3 H OCH3 OH OH OH 25 32 33 38 -Glc-6-O- R1 H H H Coumaroyl-p(E) -Glc-6-O-Coumaroyl- R2 H -Glc(61)Rha -Glc p(E).
39 40 41 31 R1 -Glc(61)Rha Glu H R2 H H Glu Hình 1. Cấu trúc phân tử của một số hợp chất flavonoid phân lập từ chi Sida L. Nhóm hợp chất phytoecdysteroid Phytoecdysteroid là những hormone steroid có trong thực vật bảo vệ chúng chống lại những tác động có hại từ côn trùng. Đã có 16 phytoecdysteroid được phân lập chủ yếu từ các loài như S.
Các phytoecdysteroid phân lập từ chi Sida L. Hợp chất Loài TLTK S. acuta [40] 2-Deoxy-20-hydroxyecdyson-3-O-β-D- S. rhombifolia [40] Glucopyranosid (45) 20-Hydroxyecdyson-3-O-β-D-Glucopyranosid S.
rhombifolia 20-Hydroxy-24-hydroxymethylecdyson (53) S. szechuensis [86] 43 44 45 46 47 48 49 R1 OH OH H OH R1 OH OH H R2 H H Glc Glc R2 H OH H R3 H OH OH OH R3 OAc H OH. 50 51 52 56 53 54 55 57 58 R1 H OH H R H OH R2 CH2OH H CH2CH3 Hình 1. Cấu trúc phân tử một số hợp chất ecdysteroid phân lập từ chi Sida L.
Tác dụng dược lý 1. Tác dụng chống oxi hóa Phân đoạn cao chiết ethyl acetat của loài S. acuta thu thập ở Burkina Faso cho hàm lượng chất chống oxi hóa cao trong các thử nghiệm DPPH (10,03 ± 0,05 mM .