Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu tác động nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu và nước biển dâng, với dự báo khoảng 11% diện tích đồng bằng ven biển sẽ bị xâm nhập mặn nghiêm trọng vào cuối thế kỷ. Tại hạ lưu lưu vực sông Mã, khu vực Bắc sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa với diện tích tự nhiên 83.821,2 ha và quy mô dân số đạt 719.807 người vào năm 2012 đang đối mặt trực tiếp với thảm họa này. Vấn đề cốt lõi nảy sinh khi xâm nhập mặn ngày càng tiến sâu vào nội đồng, điển hình là nồng độ mặn đỉnh điểm đo được tại trạm Hàm Rồng trên sông Mã lên tới 12,6‰ và trạm Phong Lộc trên sông Lèn chạm mốc 14,1‰. Hiện tượng này làm tê liệt nguồn lấy nước ngọt, đe dọa trực tiếp hơn 20.000 ha đất canh tác nông nghiệp và gây khủng hoảng nước sinh hoạt cho hàng chục nghìn hộ dân nông thôn.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện tác động của xâm nhập mặn đến nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp; đồng thời ứng dụng công cụ mô phỏng số trị để dự báo diễn biến ranh giới mặn theo kịch bản biến đổi khí hậu đến năm 2020. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ nhằm ngăn mặn, giữ ngọt, bảo đảm an ninh nguồn nước. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian địa bàn năm huyện, thị xã gồm Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Hà Trung, Nga Sơn và thị xã Bỉm Sơn, với chuỗi số liệu khí tượng thủy văn theo dõi liên tục trong giai đoạn 1960 - 2012. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc phục hồi và tối ưu hóa năng lực phục vụ cho hệ thống 201 công trình thủy lợi hiện hữu, cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để ổn định sinh kế cho hơn 413.000 lao động địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp của hai lý thuyết cơ bản trong thủy lực học và động lực học sông ngòi:

  • Lý thuyết thủy động lực học dòng chảy một chiều (Hệ phương trình Saint-Venant): Mô tả quy luật biến thiên liên tục của lưu lượng và mực nước không ổn định dọc theo mạng lưới sông ngòi tự nhiên chịu tác động của dao động thủy triều biển Đông.
  • Lý thuyết lan truyền và tải khuếch tán chất tan (Mô hình Advection-Dispersion): Xác định cơ chế hòa trộn, vận chuyển nồng độ muối hòa tan dưới tác động đồng thời của dòng chảy kiệt từ thượng nguồn và năng lượng triều truyền ngược từ các cửa sông.

Mô hình nghiên cứu ứng dụng bộ công cụ MIKE 11 tích hợp mô-đun thủy lực (HD) và mô-đun lan truyền chất (AD) kết hợp phần mềm MapInfo để số hóa bản đồ không gian. Khung nghiên cứu bao gồm bốn khái niệm cốt lõi:

  • Xâm nhập mặn vùng cửa sông: Quá trình nước biển mang nồng độ mặn cao thâm nhập sâu vào các nhánh sông nội địa trong mùa khô.
  • Dòng chảy kiệt: Lưu lượng dòng chảy tự nhiên thấp nhất của hệ thống sông, đóng vai trò tạo áp lực đẩy mặn ra biển.
  • Ranh giới mặn giới hạn: Các ngưỡng độ mặn 1,0‰ (tiêu chuẩn cho phép cấp nước sinh hoạt và nông nghiệp) và 4,0‰ (ngưỡng gây hại nghiêm trọng cho cây trồng).
  • Quy hoạch vận hành liên hồ chứa: Cơ chế điều tiết phối hợp xả nước đẩy mặn từ các công trình thượng lưu.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của luận văn được thu thập từ mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn quốc gia với chuỗi số liệu 50 năm (1960 - 2010) tại các trạm Thanh Hóa, Cụ Thôn, Hà Trung, Lạch Sung. Cơ sở dữ liệu độ mặn thực tế được trích xuất từ các đợt đo đạc chuyên sâu của Viện Quy hoạch Thủy lợi vào tháng 4/2003, tháng 3/2010 và đợt điều tra liên ngành của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa vào tháng 3/2012 tại 15 vị trí then chốt trên sông Mã, sông Lèn và sông Lạch Trường.

Về quy mô mẫu và phương pháp xử lý, nghiên cứu đã khảo sát toàn diện 201 công trình thủy lợi (gồm 29 hồ chứa, đập dâng và 172 trạm bơm) trên toàn vùng. Phương pháp phân tích bao gồm thống kê xác suất tần suất cấp nước thiết kế tương ứng với $P = 75%$ và $P = 85%$, kết hợp mô hình hóa số trị MIKE 11 để mô phỏng 34,4 km dòng chính sông Mã cùng hệ thống phân lưu sông Lèn (40 km) và sông Lạch Trường (24 km). Lý do lựa chọn mô hình MIKE 11 là nhờ khả năng xử lý mạng lưới sông phân lưu phức tạp, phản ánh chính xác tương tác biên triều nhật triều không đều với biên độ dao động từ 80 cm đến 213 cm và tốc độ khuếch tán mặn phi tuyến tính. Toàn bộ quy trình tính toán, hiệu chỉnh và kiểm định mô hình được triển khai chặt chẽ theo timeline giai đoạn 2012 - 2014, hướng tới dự báo bức tranh thủy văn đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực đo và kết quả mô phỏng đã làm rõ bốn phát hiện quan trọng về hiện trạng và diễn biến xâm nhập mặn vùng Bắc sông Mã:

  • Mức độ xâm nhập mặn đạt ngưỡng lịch sử trong mùa khô: Đợt đo đạc điển hình tháng 3/2010 cho thấy nồng độ mặn tại cửa sông Quảng Châu lên tới 28,7‰, tại Mỹ Điền trên sông Lèn đạt 24,6‰ và tại trạm Cầu Choán trên sông Lạch Trường đạt 15,4‰. Toàn bộ tuyến sông Lạch Trường dài 24 km bị nhiễm mặn hoàn toàn, không còn khả năng tự tạo nguồn nước ngọt.
  • Hiệu suất khai thác của hệ thống công trình cấp nước suy giảm nghiêm trọng: Toàn vùng Bắc sông Mã có tổng công suất thiết kế tưới tiêu cho 53.664,0 ha, nhưng diện tích thực tế chỉ tưới được 31.369,1 ha, đạt tỷ lệ khiêm tốn 58,4%. Riêng trạm bơm Nguyệt Viên trên sông Mã tê liệt hoàn toàn (0% công suất), trong khi các trạm bơm trọng điểm như Hoằng Long, Yên Vực, Mỹ Điền, Yên Đông chỉ hoạt động cầm chừng từ 2 đến 6 giờ mỗi ngày, tương đương 20% đến 40% năng lực thiết kế.
  • Sự suy giảm nghiêm trọng của dòng chảy kiệt thượng lưu: Lưu lượng phân lưu tự nhiên từ sông Mã sang sông Lèn trong mùa khô trung bình chỉ đạt 29,9 m³/s vào tháng 3 (tương đương tổng lượng 80 triệu m³), và có thời điểm kiệt kỷ lục tháng 3/2010 giảm sâu xuống chỉ còn 3,0 m³/s, thấp hơn 90% so với lưu lượng trung bình nhiều năm. Mực nước kiệt tại trạm Cụ Thôn hạ thấp kỷ lục xuống -0,72 m vào ngày 23/4/2010.
  • Mâu thuẫn gay gắt giữa nhu cầu sử dụng nước gia tăng và nguồn cung kiệt quệ: Nhu cầu khai thác nước trên toàn lưu vực tăng vọt từ 2.405 triệu m³ năm 2004 lên 3.170 triệu m³ năm 2008 và chạm ngưỡng 4.083 triệu m³ vào năm 2013, tương đương mức tăng trưởng từ 25% đến 30% sau mỗi giai đoạn 5 năm.

Thảo luận kết quả

Diễn biến xâm nhập mặn tại vùng Bắc sông Mã là kết quả của sự tương tác bất lợi giữa các yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Về mặt thủy lực, chế độ nhật triều không đều với biên độ triều lớn (đỉnh triều đạt tới 3,39 m tại Hoàng Tân) tạo động lực đẩy nồng độ mặn lan truyền nhanh vào sâu trong lục địa trong điều kiện dòng chảy ngọt thượng lưu bị suy kiệt. Khi so sánh với các nghiên cứu của Barlow và cộng sự (2012) tại bờ biển Bắc Mỹ hay công trình của Nguyễn Quang Kim (2010) tại Đồng bằng Sông Cửu Long, cơ chế nhiễm mặn hạ lưu sông Mã tương đồng về bản chất suy giảm dòng chảy kiệt kết hợp thủy triều mạnh, nhưng chịu thêm áp lực lớn từ sự phân lưu mất cân đối giữa dòng chính sông Mã và nhánh sông Lèn (tỷ lệ phân lưu mùa kiệt chỉ dao động quanh mức 20% đến 30%).

   ========================================================================
   BẢNG TỔNG HỢP NĂNG LỰC TƯỚI THỰC TẾ SO VỚI THIẾT KẾ CÁC TIỂU VÙNG
   ========================================================================
   Khu vực nghiên cứu        Năng lực TK (ha)   Thực tế (ha)   Tỷ lệ (%)
   ------------------------------------------------------------------------
   Vùng 1 (Hoằng Hóa)            19.437,0         10.910,0       56,1%
   Tiểu vùng 2-1 (Hậu Lộc)       10.337,0          5.557,0       53,8%
   Tiểu vùng 2-2 (Bắc sông Lèn)   5.700,0          2.846,0       49,9%
   Tiểu vùng 2-3 (Nga Sơn)        9.859,5          6.142,0       62,3%
   Vùng 3 (Sông Hoạt - Bỉm Sơn)   8.330,5          5.394,1       64,7%
   ------------------------------------------------------------------------
   Toàn vùng Bắc sông Mã         53.664,0         31.369,1       58,4%
   ========================================================================

Dữ liệu mô phỏng từ MIKE 11 có thể được trực quan hóa qua biểu đồ đường quá trình mặn tại trạm Phà Thắm và bản đồ ranh giới mặn 1,0‰, 4,0‰. Theo kịch bản biến đổi khí hậu phát thải trung bình (B2) đến năm 2020, khi mực nước biển dâng thêm khoảng 12 cm đến 15 cm và nhiệt độ tăng 0,8°C, ranh giới mặn 1,0‰ sẽ lấn sâu thêm từ 2,5 km đến 4,0 km vào nội đồng trên sông Lèn và sông Mã. Điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ các cống lấy nước và trạm bơm hiện hữu trong phạm vi cách biển dưới 20 km sẽ hoàn toàn mất khả năng lấy nước tự chảy trong các kỳ triều cường nếu không có công trình ngăn mặn chủ động.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả tính toán mô hình thủy lực và cân bằng nước, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động chiến lược:

  • Xây dựng công trình ngăn mặn giữ ngọt quy mô lớn tại hạ lưu: Đầu tư xây dựng đập dâng và cống ngăn mặn đập Lèn trên sông Lèn cùng hệ thống cống kiểm soát trên sông Lạch Trường. Mục tiêu hạ thấp độ mặn hạ du xuống dưới 1,0‰ tại các cửa lấy nước chính, bảo đảm nguồn cung ổn định cho 15.000 ha đất canh tác của huyện Hậu Lộc và Hà Trung. Tiến độ thực hiện hoàn thành trong giai đoạn 2015 - 2020 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa làm chủ đầu tư.
  • Quy hoạch xây dựng hồ chứa điều tiết đa mục tiêu Pa Ma ở thượng nguồn: Triển khai xây dựng hồ thủy điện - thủy lợi Pa Ma nhằm tăng cường dung tích hữu ích, bổ sung lưu lượng xả duy trì dòng chảy môi trường trong mùa kiệt đạt tối thiểu từ 50 m³/s đến 70 m³/s về hạ lưu sông Mã, đẩy lùi ranh giới mặn 1,0‰ ra xa cửa sông từ 5 km đến 8 km.
  • Hiện đại hóa và kiên cố hóa hệ thống hạ tầng thủy nông nội đồng: Tiến hành tu sửa, nâng cấp 49 trạm bơm vùng Hoằng Hóa và 51 trạm bơm huyện Hậu Lộc; kiên cố hóa 100% hệ thống kênh mương chính đi qua vùng đất cát pha ven biển để giảm tổn thất lưu lượng từ hệ số thiết kế cũ 0,7 l/s/ha, nâng hiệu suất tưới toàn vùng từ 58,4% lên trên 85% vào năm 2020. Trách nhiệm thực hiện thuộc về Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Bắc sông Mã.
  • Thực thi các giải pháp phi công trình thích ứng biến đổi khí hậu: Ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực dựa trên diễn biến pha triều; chuyển đổi cơ cấu sản xuất cho 4.809,2 ha đất trũng nhiễm mặn sang mô hình nuôi trồng thủy sản nước lợ hiệu quả cao; đồng thời phục hồi và trồng mới 2.095 ha rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng ngập mặn ven biển, đưa tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng đạt 12.390,5 ha vào năm 2020 do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thanh Hóa chủ trì.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả tính toán trong luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước và nông nghiệp: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa có thể sử dụng số liệu dự báo mặn và kịch bản B2 để lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, điều chỉnh kế hoạch phân bổ nguồn nước và xây dựng chiến lược ứng phó thiên tai hạn mặn đến năm 2030.
  • Các viện nghiên cứu, chuyên gia quy hoạch thủy lợi: Cung cấp bộ thông số nhám lòng dẫn, hệ số tải khuếch tán mặn và mô hình mạng sông MIKE 11 đã được hiệu chuẩn chính xác để làm tiền đề mở rộng mô phỏng cho các lưu vực sông ven biển miền Trung.
  • Đơn vị quản lý và khai thác công trình thủy lợi: Doanh nghiệp thủy nông Bắc sông Mã có thể ứng dụng trực tiếp biểu đồ tương quan mặn - triều tại trạm Cụ Thôn, Phà Thắm, Hoằng Khánh để lập lịch đóng mở cống và vận hành trạm bơm tối ưu theo từng con nước ròng.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên kỹ thuật tài nguyên nước: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình kết hợp số liệu thực địa, phương pháp phân tích thống kê thủy văn và ứng dụng phần mềm số trị hiện đại trong giải quyết bài toán cấp thoát nước phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

1. Đâu là nguyên nhân chính khiến xâm nhập mặn vùng Bắc sông Mã gia tăng nghiêm trọng?
Nguyên nhân cốt lõi là sự suy giảm dòng chảy mùa kiệt từ thượng lưu (tháng 3/2010 lưu lượng trên sông Lèn giảm xuống chỉ còn 3,0 m³/s so với trung bình 29,9 m³/s) kết hợp với biên độ thủy triều cao đạt đỉnh 3,39 m tại cửa sông và nhu cầu khai thác nước trên toàn lưu vực tăng 25% đến 30% trong thập kỷ qua.

2. Mô hình MIKE 11 đóng vai trò then chốt như thế nào trong nghiên cứu này?
MIKE 11 tích hợp mô-đun thủy lực một chiều (HD) và lan truyền tải khuếch tán (AD), cho phép mô phỏng chính xác tương tác thủy lực không ổn định trên 100 km mạng lưới sông Mã - Lèn - Lạch Trường. Mô hình giúp xác định chính xác vị trí ranh giới mặn 1,0‰ và 4,0‰ theo các kịch bản thủy văn P = 75% và P = 85%.

3. Tình trạng hạn mặn gây thiệt hại cụ thể như thế nào đối với hạ tầng cấp nước địa phương?
Xâm nhập mặn đã làm vô hiệu hóa hoặc suy giảm công suất của 201 công trình thủy lợi, khiến tổng diện tích thực tưới chỉ đạt 31.369,1 ha (đạt 58,4% thiết kế). Nghiêm trọng hơn, vào mùa kiệt năm 2010, hơn 65.000 người dân tại 5 xã vùng Đông kênh De huyện Hậu Lộc đã rơi vào cảnh thiếu nước sinh hoạt gay gắt.

4. Giải pháp công trình nào được đánh giá mang lại hiệu quả cao nhất cho khu vực?
Xây dựng đập Lèn ngăn mặn trên sông Lèn kết hợp hồ chứa điều tiết Pa Ma ở thượng nguồn là giải pháp căn cơ nhất. Công trình giúp kiểm soát mặn triều xâm nhập, đồng thời bảo đảm lưu lượng xả kiệt từ 50 m³/s đến 70 m³/s nhằm giữ ngọt cho toàn bộ hệ thống trạm bơm dọc sông.

5. Biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi ranh giới xâm nhập mặn vùng Bắc sông Mã ra sao đến năm 2020?
Theo kịch bản phát thải trung bình (B2) với mực nước biển dâng dự báo từ 12 cm đến 15 cm, ranh giới mặn 1,0‰ sẽ lấn sâu thêm từ 2,5 km đến 4,0 km vào hệ thống sông nội đồng, đẩy hơn 20.000 ha đất canh tác vào vùng rủi ro nhiễm mặn thường trực nếu không có hệ thống ngăn triều khép kín.

Kết luận

  • Luận văn đã làm rõ bức tranh tổng thể về hiện trạng suy kiệt nguồn nước ngọt và mức độ xâm nhập mặn khốc liệt tại 5 huyện, thị xã vùng Bắc sông Mã với diện tích tự nhiên 83.821,2 ha.
  • Thiết lập thành công bộ công cụ mô phỏng số trị MIKE 11 có độ tin cậy cao trên toàn mạng lưới sông Mã, sông Lèn và sông Lạch Trường, định lượng chính xác ranh giới mặn 1,0‰ và 4,0‰ theo các tần suất cấp nước P = 75% và P = 85%.
  • Đánh giá toàn diện sự suy giảm hiệu quả của 201 công trình thủy lợi hiện hữu khi năng lực thực tưới chỉ đạt 58,4% so với công suất thiết kế ban đầu.
  • Đề xuất gói giải pháp tích hợp công trình (đập ngăn mặn sông Lèn, hồ chứa Pa Ma) và phi công trình (vận hành liên hồ chứa, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, bảo vệ 12.390,5 ha đất lâm nghiệp) bảo đảm tính khả thi cao.
  • Cung cấp cơ sở khoa học định lượng vững chắc cho lộ trình đầu tư hạ tầng thủy lợi thích ứng biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn dài hạn cho tỉnh Thanh Hóa.

Để nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên nước và chủ động ứng phó với thiên tai xâm nhập mặn, các cơ quan hữu quan, viện nghiên cứu và doanh nghiệp thủy nông cần nhanh chóng tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu, ứng dụng các thông số tính toán vào thực tiễn quy hoạch và quản lý vận hành hệ thống cấp nước bền vững.