chương 1 cũng làm rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích tác động của phát triển thị trường chứng khoán, các nhân tố vĩ mô tới thị trường bất động sản tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2007-2021. Điểm nổi bật của nghiên cứu này là nghiên cứu đến biến đo lường của phát triển thị trường chứng khoán và xem xét hai thành phần quan trọng riêng biệt bao gồm các biến vĩ mô bên trong (CPI, tăng trưởng GDP, LSTG, LSCV, …) và các biến vĩ mô có yếu tố nước ngoài (tỷ giá, FDI theo % GDP) trong mô hình tác động phát triển TTCK, các yếu tố kinh tế vĩ mô tới TTBĐS tại Việt Nam. Thêm vào đó, nghiên cứu có xét đến các kiểm định riêng biệt, và mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các biến qua kết quả phân rã phương sai và phản ứng đẩy ảnh hưởng đến 2 thị trường này và mô hình vector tự hồi quy đa biến VAR (sử dụng phương pháp Toda-Dolado) được sử dụng để xem xét đầy đủ phản ứng của các biến độc lập lên các biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu ở Việt Nam. 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ TÁC ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ TỚI THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN 2.
Cơ sở lý thuyết về phát triển thị trường chứng khoán 2. Tổng quan về thị trường chứng khoán 2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán Thuật ngữ về thị trường chứng khoán (TTCK) có nhiều định nghĩa khác nhau: TTCK là một thành phần quan trọng của thị trường tài chính. Trước hết, chúng ta bắt đầu từ khái niệm về thị trường tài chính. Theo Mishky (2010), một cách đơn giản thì thị trường tài chính là nơi mà vốn được chuyển tiếp từ người thừa sang người thiếu.
Theo Howells và Bain (2007), thị trường tài chính là một hệ thống tổ chức mà ở đó các công cụ tài chính có thể mua và bán. Các công cụ tài chính cung cấp nguồn vốn ngắn hạn (trên thị trường tiền tệ) hay nguồn vốn dài hạn (trên thị trường vốn), và chứng khoán là công cụ tài chính quan trọng cung cấp nguồn vốn dài hạn. Theo Madura (2015), thị trường tài chính là nơi mà các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu được mua và bán. Khi người mua và người bán tài sản tài chính giao dịch với nhau thì dòng tiền được chuyển dịch trong thị trường tài chính, nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tài trợ và đầu tư bởi các hộ gia đình, các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ.
Theo Bùi Kim Yến (2013), TTCK là một thành phần của thị trường tài chính thực hiện chức năng huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế. Theo Đào Lê Minh (2006), “thị trường chứng khoán là từ ngữ chung chỉ giao dịch mua bán chứng khoán thông qua các thị trường khác nhau, như thị trường tập trung và phi tập trung”. Một cách tổng quát, TTCK là nơi xảy ra quan hệ mua bán các loại chứng khoán được thực hiện bởi các nhà mô giới mà giá cả giao dịch được hình thành theo quy luật cung cầu. Theo lý thuyết, chứng khoán bao gồm cả cổ phiếu và trái phiếu.
Tuy nhiên, trên thực tế thì số liệu của TTCK được đo lường và công bố theo Ngân hàng thế giới chỉ là giá trị tất cả các cổ phiếu được giao dịch của các công ty cổ phần trong nước. Vì vậy, 16 các nghiên cứu được công bố về TTCK phần lớn sử dụng số liệu về giá trị cổ phiếu của các công ty cổ phần nội địa, không có trái phiếu chính phủ hay trái phiếu của doanh nghiệp. Khi đó, giá trị vốn cổ phiếu được giao dịch cũng xem như giá trị thị trường của nguồn vốn chủ sở hữu đang được đầu tư vào các công ty cổ phần trong nước. Thị trường chứng khoán( TTCK) là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động nhằm thu hút các nguồn vốn trong xã hội để tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc mua bán này được tiến hành ở hai cấp độ thị trường: sơ cấp và thứ cấp. Thị trường sơ cấp: là thị trường phát hành những chứng khoán lần đầu. Thị trường thứ cấp: nơi diễn ra sự mua bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở Thị trường sơ cấp.
Hàng hoá giao dịch trên thị trường chứng khoán bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm. Thị trường chứng khoán là một chủ thể chịu tác động nhiều nhân tố, bao gồm các nhân tố vĩ mô và vi mô. Ross (1976) đã phát triển Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT- Arbitrage Pricing Theory) để giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trên thị trường bằng phương trình k nhân tố: Rj = aj + j,1 F1 + j,2F2 +…+ j,kFk + uj Các nhân tố trong mô hình có thể là: các chỉ số thị trường chứng khoán quốc tế, chỉ số ngành trong mỗi thị trường, các nhân tố kinh tế vĩ mô hoặc các nhân tố kinh tế vi mô. Nhiều nghiên cứu cũng đồng quan điểm trên như Nelson (1976), Chen, Roll,và Ross( 1986), Kwon và Shin (1999)… Bên cạnh đó, theo Malliaris và Urrutia (1991), TTCK không chỉ chịu ảnh hưởng từ các biến số kinh tế vĩ mô mà bản thân nó cũng tác động ngược lại đến các biến kinh tế vĩ mô.
Các nhân tố vĩ mô phổ biến được nhiều độc giả đồng tình cho rằng thực sự có ảnh hưởng đến TTCK bao gồm: GDP thể hiện cho hoạt động kinh tế thực; chính sách tiền tệ; chính sách tài khoá; lạm phát; lãi suất; tỷ giá hối đoái; dòng vốn quốc tế; luật pháp (Fama, 1981; Chen, Roll, Ross, 1986; Bailey anh 17 Chung, 1995; Kwon và Shin, 1999; Mohammed và cộng sự, 2009). Đặc biệt, Maysami và cộng sự (2004) tiến hành nghiên cứu thị trường Singapore đã tìm thấy chỉ số thị trường chứng khoán Singapore và chỉ số ngành bất động sản hình thành mối quan hệ đồng tích hợp với tất cả các biến kinh tế vĩ mô.2 Khái niệm phát triển thị trường chứng khoán Hiện tại, trên thế giới đang tồn tại nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau về phát triển thị trường chứng khoán ( Stock market development). Dưới đây là các khái niệm về phát triển thị trường chứng khoán thường sử dụng: Thứ nhất, Pagano (1993) mô hình hóa mối quan hệ giữa đa dạng hóa rủi ro và doanh nghiệp các quyết định tài chính nghiên cứu lợi ích chia sẻ rủi ro tăng lên của thị trường chứng khoán do ngoại ứng thị trường dày đặc. Bên cạnh quy mô thị trường chứng khoán, các nhà nghiên cứu lý thuyết đã xem xét sự ổn định và hội nhập với thị trường vốn thế giới biến động trở lại cổ phiếu.
Thứ hai, Devereux và Smith (1994) và obsfeld (1994) cho thấy rằng bằng cách tạo điều kiện chia sẻ rủi ro, các thị trường chứng khoán hội nhập quốc tế sẽ ảnh hưởng đến các quyết định tiết kiệm, phân bổ vốn và tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Đa dạng hóa rủi ro và thanh khoản lớn hơn có những tác động không rõ ràng về mặt lý thuyết về tỷ lệ tiết kiệm, tuy nhiên, vì tỷ lệ tiết kiệm có thể giảm đủ để thanh khoản hạn chế và đa dạng hoá rủi ro dẫn đến tăng trưởng kinh tế chậm hơn. Thứ ba, sự phát triển thị trường chứng khoán có liên quan tích cực và mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (Levine, R., 1996), Levine (1991) và Bencivenga, Smith, và Starr (1996) nhấn mạnh rằng cổ phiếu tính thanh khoản của thị trường khả năng dễ dàng giao dịch chứng khoán, tạo điều kiện thuận lợi cho các khoản đầu tư trong các dự án dài hạn, lợi nhuận cao hơn, có nhiều giao dịch hơn. Garcia & Lin Liu (1999) xác nhận rằng phát triển các trung gian tài chính một cách tích cực có khả năng phát triển TTCK thông qua chỉ số tăng trưởng kinh tế, đầu tư và tính thanh khoản TTCK.
18 Thứ năm, Phát triển thị trường chứng khoán gắn với phát triển các trung gian tài chính, liên kết TTCK với sự phát triển kinh tế và các quyết định tài trợ doanh nghiệp (Demirgüç- Kunt, A. Phát triển thông qua quy mô thị trường chứng khoán, tính thanh khoản của thị trường, sự biến động của thị trường, tập trung của thị trường và hiệu quả định giá tài sản. Như vậy, từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu phát triển thị trường chứng khoán là phát triển về quy mô thị trường, tính thanh khoản của thị trường .3 Đo lường phát triển thị trường chứng khoán Sự phát triển thị trường chứng khoán cũng như mức độ phát triển kinh tế là một khái niệm đa nghĩa phức tạp. Không có 1 thước đo nào duy nhất nắm bắt được tất cả các khía cạnh phát triển thị trường chứng khoán.
Trên thực tế, các nghiên cứu thực nghiệm hỗ trợ tiền đề phát triển TTCK thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu trong hai thập kỷ qua đã chuyển sang câu hỏi về các yếu tố quyết định phát triển TTCK. Calderon Rosell (1991) nghiên cứu lý thuyết sớm nhất về vấn đề này, là người đầu tiên phát triển mô hình cân bằng từng phần của sự phát triển thị trường chứng khoán. Khám phá những gì quyết định sự phát triển thị trường chứng khoán đã trở thành một lĩnh vực nổi bật trong nghiên cứu những năm gần đây. Nói chung tài liệu chia làm 2 nhóm ảnh hưởng đó là các “yếu tố kinh tế vĩ mô” và “các yếu tố thể chế”.
Các yếu tố vĩ mô bao gồm trình độ phát triển kinh tế, lạm phát, dòng vốn…Còn các yếu tố thể chế bao gồm các biến số phản ánh trạng thái của cơ quan quản lý giám sát như khuôn khổ pháp lý, bảo vệ quyền sở hữu…Hai tập hợp các biến số này có mối quan hệ với nhau. Sự phát triển môi trường thể chế là được phản ánh trực tiếp trong điều kiện kinh tế vĩ mô, đồng thời môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi tạo điều kiện cho yếu tố thể chế phát triển. Đề cập đến sự phát triển của TTCK thường được đo lường qua quy mô của thị trường, hay tính thanh khoản của TTCK (Tunyi & Ntim, 2016; Pradhan & cộng sự, 2015; Torre, 2007; …). Quy mô TTCK của một quốc gia được đo lường qua chỉ tiêu giá trị vốn hóa 19 thị trường so với GDP, còn tính thanh khoản của thị trường thường được đo lường qua tốc độ luân chuyển vốn của chứng khoán.