mở đầu trong việc đưa vào hầu hết các quá trình xảy ra tại bề mặt vào trong các sơ đồ SVAT áp dụng cho các mô hình khí tượng và khí hậu.4 Các phương trình cơ bản cho sơ đồ trao đổi đất - thực vật - khí quyển Năng lượng bức xạ thuần Rn hấp thụ tại bề mặt tính bởi: RS(1 )L T4 (1.1) n w g 13 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN BÌNH PHONG trong đó S là độ chiếu nắng hay năng lượng bức xạ mặt trời tới bề mặt, là albedo bề mặt, Lw là thông lượng sóng dài tới bề mặt (của khí quyển, mây), là hằng số Stefan-Boltzmann và Tg là nhiệt độ bề mặt. Phương trình cân bằng nhiệt tại bề mặt: Rn G SH LE (1.2) trong đó G là thông lượng nhiệt truyền xuống lớp đất dưới bề mặt, SH là thông lượng hiển nhiệt, E là tốc độ bốc thoát hơi nước và L là ẩn nhiệt hoá hơi. Trong phương trình (1.2) ta đã bỏ qua năng lượng dành cho các phản ứng sinh hoá.4: Sù ph©n bè l¹i n¨ng lîng mÆt trêi t¹i bÒ mÆt (tr¸i) vµ c¸c dßng Èn nhiÖt vµ hiÓn nhiÖt truyÒn vµo trong líp biªn khÝ quyÓn (ph¶i) Coi các quá trình truyền nhiệt rối ( SH ), bốc thoát hơi ( E) và truyền động lượng (ứng suất bề mặt ) là tựa khuếch tán. Theo lý thuyết tương tự của Monin- Obukhov, thông lượng khuếch tán F của một lượng từ bề mặt vào khí quyển có thể tính theo công thức xấp xỉ: F C D u( s a) (1.3) 14 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN BÌNH PHONG trong đó là mật độ không khí, u là độ lớn của vận tốc gió, s và a tương ứng là tại bề mặt và trong không khí, và CD là hệ số trao đổi không thứ nguyên.
Nếu ta ký hiệu kháng trở khí động học (độ chống chịu) bề mặt: r 1 (1.4) a CDu thì thông lượng F được viết lại dưới dạng: F ( s a) (1.5) ra Theo công thức (1.5) ta thấy thông lượng truyền từ bề mặt vào trong khí quyển do sự chênh lệch lượng giữa bề mặt và khí quyển, và quá trình truyền này chịu một độ cản ra. Áp dụng cách tính các thông lượng như trên, xét sự chênh lêch giữa nhiệt độ không khí tại bề mặt đang xét Tc và nhiệt độ không khí của khí quyển Ta , chênh lệch giữa độ ẩm riêng qc qa , vận tốc ur tại độ cao r ta có thể viết lại công thức cho thông lượng hiển nhiệt (SH), tốc độ bốc hơi (E) và ứng suất bề mặt ( ): T T E qa q c u (1.6) c SH c p a r ra ra ra m ở đây ra là kháng trở khí động học đối với trao đổi mômen động lượng, vận tốc m tại độ cao z0 (hệ số gồ ghề) là bằng không và xem hai quá trình truyền nhiệt và khuếch tán ẩm có sự tương tự hoàn toàn. Phương trình truyền nhiệt xuống các lớp đất sâu: Ts ] S ( cT) [k (1.7) s tsss z z s 15 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN BÌNH PHONG trong đó Ts là nhiệt độ của lớp đất, ks là hệ số khuếch tán nhiệt của đất, s cs tương ứng là mật độ, nhiệt dung riêng của đất, Ss là nguồn nhiệt phát sinh hoặc tiêu hao do chuyển pha của nước hoặc do trao đổi rối. Phương trình nhập lượng nước (budget) tại bề mặt: w t Gi¸ng thuû-Bèc tho¸t h¬i Dßng ch¶y bÒ mÆt Si , w (1.8) trong đó w là lượng nước tại bề mặt, tính bằng m hoặc kg tuỳ thuộc theo đổi thứ nguyên bên vế phải.
Si , w là lượng nước sinh ra hoặc mất đi do tan hoặc đóng băng. Phương trình truyền nước xuống sâu do lắng đọng trọng lực: q Sr (1.9) t z trong đó là lượng nước trong đất ( m 3 m 3 ) , q là thông lượng nước truyền xuống và Sr là nguồn sinh hoặc tiêu hao nước dưới đất do rễ thực vật. Thông lượng nước có thể tính theo công thức của Darcy: ( h z) q K(h) (1.10) z trong đó K ( h ) h tương ứng là hệ số dẫn thuỷ lực và độ cao cột nước trong đất. Đối với các vùng đất trống, các kháng trở hay nghịch đảo của hệ số trao đổi rối có thể được tính theo lý thuyết rối tại lớp biên hành tinh khí quyển [5].
Khi bề mặt là thực vật, do lá cây thoát hơi nước thông qua các lỗ khí khổng nên vấn đề quan trọng cho việc tham số hoá quá trình bốc thoát hơi chính là tham số hoá kháng trở khí khổng rs của lá cây. Kháng trở khí khổng đặc trưng cho khả năng thích hợp trao đổi giữa thực vật và môi trường bên ngoài, khi rs đạt giá trị 16 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN BÌNH PHONG nhỏ nhất nghĩa là khả năng bốc thoát hơi là tốt nhất. Một công thức tính rs hay được sử dụng là của Jarvis (1976) [6], trong đó rs có thể được phân tách thành tích các hàm phụ thuộc từng yếu tố nhiệt độ T không khí tại bề mặt, chênh lệch giữa sức trương hơi nước của không khí trong vòm phủ thực vật và sức trương hơi nước trong các tế bào của lá cây e , bức xạ quang hợp PAR , nồng độ CO2 trong không khí CCO2 , chênh lệch thế năng nước trong đất và rễ cây cùng một số yếu tố khác (thuộc về thực vật học).11) 2 2 Độ chống chịu của tán lá lớn rc được tính bởi: rs (1.12) rc LAI trong đó LAI là chỉ số diện tích lá cây tương đối so với diện tích bề mặt. Khi đó lượng bốc hơi sẽ tính theo công thức: qq (1.13) a c E r rc a Trong các sơ đồ SVAT phức tạp hơn sẽ thêm hai phương trình nhập lượng nước và nhiệt trong vòm phủ thực vật với giả thiết rằng không khí trong tán lá thực vật không có khả năng tích trữ nhiệt và ẩm.
Ngoài ra phải tính đến sự ngăn chặn giáng thủy, sự suy yếu bức xạ và suy yếu động lượng (gió) do tán lá của thực vật mà sẽ liên hệ trực tiếp tới các tham số albedo và độ gồ ghề của bề mặt và quá trình bốc thoát hơi của thực vật. Hiện nay, với những hiểu biết về các cơ chế sinh lý của thực vật và đặc tính vật lý của đất cho phép chúng ta nghiên cứu và mô phỏng các quá trình trao đổi nhiệt, ẩm tại bề mặt một cách khá chính xác và đã được kiểm chứng bởi một số quan trắc riêng biệt [10]. 17 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN BÌNH PHONG CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH MM5 VÀ SƠ ĐỒ THAM SỐ HÓA BỀ MẶT ĐẤT 2.1 Giới thiệu về mô hình MM5 Mô hình khí tượng động lực quy mô vừa thế hệ thứ 5 (MM5) của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khí quyển Hoa Kỳ (NCAR) và Trường Đại học Tổng hợp Pennsylvania Hoa Kỳ (PSU), là thế hệ mới nhất trong một loạt các mô hình dự báo được Anthes phát triển từ những năm 1970. Qua quá trình thử nghiệm, mô hình đã được điều chỉnh và cải tiến nhiều lần nhằm mô phỏng tốt hơn các quá trình vật lý quy mô vừa và có thể áp dụng đối với nhiều đối tượng sử dụng khác nhau.5) của mô hình ra đời năm 2001 đã được điều chỉnh, cải tiến thêm so với các phiên bản trước trong các mảng: + Kỹ thuật lồng ghép nhiều mực + Động lực học bất thuỷ tĩnh + Đồng hoá số liệu 4 chiều + Bổ xung lựa chọn các sơ đồ tham hoá vật lý + Kỹ thuật tính toán Mô hình MM5 sử dụng hệ thống lưới lồng (nesting grid) nhằm mô phỏng tốt hơn các quá trình vật lý có quy mô nhỏ hơn bước lưới của miền tính ban đầu.
Về lý thuyết, MM5 cho phép lồng tối đa 9 khu vực. Tỷ lệ của độ phân giải theo phương ngang của miền tính trong với miền tính ngoài luôn là 3:1 MM5 là mô hình số trị tương đối phức tạp và đòi hỏi khối lượng tính toán lớn nên hiện nay chương trình nguồn chỉ chạy trên hệ các máy tính mạnh như: SUN, IBM, CRAY, DEC (Alpha), hay PC-cluster với hệ điều hành Linux. Kèm 18 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN BÌNH PHONG theo phần mềm mô hình còn có các phần mềm hỗ trợ khác như phần mềm biên dịch Porland Group Fortran (PGI) hay phần mềm đồ hoạ của NCAR (NCAR Graphics).2 Cấu trúc mô hình MM5 Sơ đồ trong hình 2.1 biểu diễn hệ thống các modul chính của mô hình MM5. Có thể chia mô hình thành hai bộ phận chính: + Bộ phận xử lý và bộ phận mô phỏng Đầu tiên, số liệu địa hình, các thông số của miền tính và số liệu khí tượng được nội suy theo phương ngang, phương thẳng đứng thông qua các modul thuộc bộ phận xử lý TERRAIN, REGRID và INTERPF.
Bộ phận mô phỏng MM5 nhập dữ liệu đã được xử lý từ các modul trên, mô phỏng các quá trình vật lý và đưa ra dự báo số của mô hình. Sản phẩm dự báo của MM5 được chuyển đến bộ phận xử lý cuối cùng là modul đồ hoạ (GRAPH/RIP, GRADS) và phân tích dữ liệu (Output Analyis). TERAIN REGRID Bộ phận tiền xử lý INTERPF MM5 Bộ phận mô phỏng GRAPH/RIP Bộ phận hậu xử lý Output Analysis 19 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN BÌNH PHONG Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc các modul chính của mô hình MM5. Do phép nội suy theo sơ đồ hình 2.1 không thể mô tả chi tiết về địa hình khu vực và các trường khí tượng khu vực cần dự báo cho nên quá trình nội suy có thể được tăng cường trong modul RAWINS/Litter_r, đây là modul xử lý các nguồn số liệu quan trọng được cung cấp từ mạng lưới trạm quan trắc bề mặt tiêu chuẩn và các trạm thám không địa phương.
Trong trường hợp lồng ghép nhiều mực đối với các khu vực khác nhau, mô hình bổ xung modul NESTDOWN với mục đích làm trơn hơn lưới thô ở miền ngoài. Modul INTERPB có chức năng chuyển các trường khí tượng từ mực sigma của mô hình về mực khí áp (hình 2.2) TERAIN REGRID RAWINS/Little_R INTERPF NESTDOWN MM5 INTERPB GRAPH/RIP Output Analysis Hình 2.2: Sơ đố cấu trúc đầy đủ các modul của mô hình MM5. Sau đây, chúng tôi trình bày một cách sơ lược một số vấn đề liên quan đến các modul chính của mô hình MM5 2.1 Modul TERRAIN 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN BÌNH PHONG Là modul đầu tiên của hệ thống mô hình dự báo MM5, dùng để nội suy theo phương ngang các dữ liệu về độ cao địa hình và thảm thực vật, loại hình bề mặt, ranh giới đất-nước,…cho các miền tính.