đặt vấn đề: "Nghiên cứu sự biến động mùa khí hậu khu vực Đông Bắc Việt Nam" nhằm hƣớng tới vấn đề quan trọng này. Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu và mùa khí hậu trên thế giới Nguồn gốc của khoa học nghiên cứu về khí hậu bắt đầu từ cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, chủ yếu nghiên cứu về các sông băng. Tới thập niên 1970, một nhà khoa học Thụy Điển tên là Horace-Bénédict de Saussure cho rằng khí quyển trái đất giống nhƣ một chiếc nhà kính, bảo về bề mặt trái đất và các sinh vật sống trong đó khỏi các cực trị nhiệt độ. Sau đó, John Tyndall, một nhà khoa học Anh là ngƣời đầu tiên tiến hành các thí nghiệm để khẳng định hiệu ứng nhà kính.
Nhƣng trong thế kỉ XIX, thuật ngữ “hiệu ứng nhà kính” chƣa đồng nghĩa với sự ấm lên toàn cầu. Thay vào đó, các nhà khoa học lại lo lắng về một khía cạnh ngƣợc lại: sự lạnh đi toàn cầu và sự quay ngƣợc trở lại thời kì băng hà sẽ đe dọa nền văn minh của loài ngƣời. Trong thế kỉ XIX, nhà khoa học Thụy Điển Louis Agassiz đƣợc xem nhƣ học giả đầu tiên nghiên cứu về biến đổi khí hậu. Agassiz đƣa ra các lí thuyết dựa trên thông tin về sự phát triển và rút lui của các sông băng trong các giai đoạn tại Alps và Châu Âu, Great Lake tại Bắc Mĩ và các khu vực khác.
Ông cho rằng trái đất đã trải qua sự thay đổi của nhiệt độ và các điều kiện thời tiết khác nhau. Năm 1890, Svante Arhenius, theo sau Tyndall, đã tính toán tác động của CO2 tới nhiệt độ khí quyển. Nhƣng không giống nhƣ những nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở thời điểm đó, Arrhenius ủng hộ các ý tƣởng về sự ấm lên, cũng nhƣ ông nghĩ rằng điều đó sẽ giúp cải thiện điều kiện thời tiết và nông nghiệp tại Scandinavia. Sang thế kỉ XX, một nhà khoa học khác là Guy Callendar đã ủng hộ các nghiên cứu của Arrhenius và tiếp tục nỗ lực để làm rõ các hiểu biết khoa học về vai trò của carbon dioxide trong biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên những quan điểm Yet Callendar đã không đƣợc coi trọng. Năm 1951, một nhà khoa học bảo thủ cho rằng “lí thuyết về CO2 sẽ không bao giờ đƣợc chấp nhận rộng rãi và sẽ bị bỏ rơi”. Thập kỉ 1950 đánh dấu sự ra đời của các mô hình khí hậu. Bắt đầu với những nghiên cứu về nhiệt độ ở các lớp khác nhau trong đại đƣơng của nhà đại dƣơng học Roger Revelle và các đồng nghiệp tại Scripps Institution of Oceanography.nam002 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam002 thập kỉ 1960, một số vấn đề về biến đổi khí hậu đã bắt đầu đƣợc thảo luận trong giới chính trị.
Năm 1969, thƣợng nghị sĩ Mĩ Daniel Patrick Moynihan đã gửi bức thƣ lên tổng thống Mĩ Richard Nixon. Trong bức thƣ nói nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng lên khoảng 7oC cho tới năm 2000 và cùng với sự dâng của mực nƣớc biến sẽ đồng nghĩa với “Tạm biệt New York” và “Tạm biệt Washington”. Năm 1970, diễn ra hàng loạt các cuộc tranh cãi giữa 2 trƣờng phái chính, một ủng hộ quan điểm ấm lên toàn cầu và trƣờng phái còn lại ủng hộ quan điểm lạnh đi toàn cầu và sự trở lại của một giai đoạn băng hà mới. Nhƣng những tiến bộ vƣợt bậc của công nghệ vệ tinh và mô hình số đã củng cố quan điểm về sự ấm lên toàn cầu.
Các mô hình đã cho thấy các hoạt động của con ngƣời có một vai trò rất lớn trong việc làm tăng lƣợng khí nhà kính CO2 trong khí quyển. Cột mốc quan trọng trong nghiên cứu biến đổi khí hậu chỉ thực sự đánh dấu trong năm 1988, khi tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đƣợc thành lập. Đây là một tổ chức bao gồm các nhà khoa học đến từ nhiều quốc gia trên khắp thế giới, đƣa ra những báo cáo tổng hợp về các nghiên cứu biến đổi khí hậu ở thời điểm hiện tại. Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de Janeiro năm 1992 đã thông qua Hiệp định khung và Chƣơng trình hành động quốc tế nhằm cứu vãn tình trạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyển trái đất.
Tại Hội nghị Kyoto năm 1997, Nghị định thƣ Kyoto đã đƣợc thông qua vào đầu Tháng 2/2005 đã đƣợc nguyên thủ 165 quốc gia trong đó có Việt Nam phê chuẩn. Nghị định thƣ này bắt đầu có hiệu lực từ 10/2/2005. Theo IPCC [14], kịch bản biến đổi khí hậu là bức tranh toàn cảnh của khí hậu trong tƣơng lai dựa trên một tập hợp các mối quan hệ khí hậu, đƣợc xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu những hậu quả của biến đổi khí hậu do con ngƣời gây ra và thƣờng đƣợc dùng nhƣ là đầu vào cho các mô hình đánh giá tác động. Các kết quả của IPCC đã đƣợc trình bày trong các báo cáo lần thứ nhất năm 1992 đến báo cáo lần thứ tƣ năm 2007.
Dựa trên các nghiên cứu về biên độ dao động chạy mô hình với các kịch bản B1, A1B, và A2 cho thế kỉ 21, tất cả các vùng của châu Á đƣợc dự tính sẽ ấm lên 6 (LUAN.nam002 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam002 trong thế kỉ tới, sự nóng lên có khả năng cao hơn so với trung bình toàn cầu diễn ra ở các vùng trung tâm Châu Á, cao nguyên Tibet và phía bắc Châu Á. Sự ấm lên thấp hơn so với trung tâm toàn cầu có khả năng diễn ra ở Đông Nam Á. Các sóng nóng/ các giai đoạn nóng trong mùa hè đƣợc dự đoán sẽ tăng lên cả về cƣờng độ lẫn thời gian kéo dài cũng nhƣ tần xuất xuất hiện. Số ngày lạnh đƣợc dự đoán sẽ ít hơn tại Đông Á và Đông Nam Á.
Mƣa mùa đông rất có khả năng tăng lên ở phía bắc Châu Á và cao nguyên Tibet, và có khả năng tăng ở Đông Á và phía nam của Đông Nam Á. Mƣa mùa hè có khả năng tăng ở bắc châu Á, đông và nam Á và hầu hết các vùng tại đông nam Á nhƣng có khả năng giảm ở trung tâm châu Á. Cƣờng độ và lƣợng mƣa rất có khả năng tăng ở Nam Á và đông nam á. Mƣa cực đoan kết hợp với gió và xoáy thuận nhiệt đới có khả năng tăng ở Đông Á, Đông nam Á và Nam Á.
Cƣờng độ hoàn lƣu có mùa có xu hƣớng yếu đi. Khu vực Bắc Á và trung tâm châu Á là những khu vực có số mô hình cho lƣợng mƣa tăng nhiều nhất. Do đó có thể thấy mƣa tăng ở các vĩ độ cao là rất có khả năng xảy ra. Trong khi đó số mô hình cho lƣợng mƣa tăng ở vùng cận nhiệt đới rất ít, tƣơng ứng với lƣợng mƣa giảm ở nơi đây cho thấy khu vực ngoại nhiệt đới rất có khả năng giảm mƣa trong thập kỉ tới.
Nghiên cứu gần đây đƣợc Hiệp hội các trƣờng đại học công bố tại Trƣờng đại học Copenhagen Tháng 3/2009 cho thấy nhiều khả năng tác động của biến đổi khí hậu trong thế kỷ XXI sẽ trầm trọng hơn những con số dự báo của IPCC đã công bố năm 2007. Do đặc tính của mùa khí hậu thƣờng gắn liền với vị trí, địa điểm cụ thể và mang tính quy mô nhỏ nên cũng đƣợc nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới. Sự dịch chuyển mùa cũng là vấn đề thu hút rất nhiều nghiên cứu trên thế giới. Tuy nhiên các nghiên cứu này chƣa đƣợc công bố rộng rãi trên toàn thế giới mà thƣờng chỉ trong phạm vi bài báo, các tạp chí khoa học trong nƣớc.
Chính vì vậy, việc tiếp cận những nghiên cứu về biến đổi mùa khí hậu trên thế giới còn khá hạn chế.nam002 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam002 Một số nghiên cứu nhƣ Piervitali (2003) [19] về xu thế giảm lƣợng giáng thủy năm tại Địa Trung Hải. Hay Shi (2003), Weng (1999), Gong (2002) cho thấy sự biến đổi thập kỉ của giáng thủy ở phía Tây Bắc Trung Quốc; lƣợng mƣa mùa thu và mùa đông tăng lên ở phía Đông Trung Quốc và giảm đi ở phía bắc Trung Quốc. Các phân tích ở phạm vi hẹp cho thấy xu hƣớng tan sớm của tuyết trong mùa xuân cùng với sự ấm lên đƣợc quan trắc ở các vĩ độ trung bình (Nicholls, 1996). Độ phủ của tuyết trong mùa xuân ở bắc bán cầu đã giảm rất mạnh từ 1988 tới 1994, trùng với các mùa xuân ấm hơn (Grosman, 1994).
Ở phía đông bắc Hoa Kì, mùa tan băng (frost-free) bắt đầu sớm hơn trung bình khoảng 11 ngày so với thập kỉ 1950 (Karl, 1997). Cùng với sự ấm lên toàn cầu, rất nhiều dòng sông băng đã tan băng (ice-free) hoặc trở thành những dòng sông chỉ bị băng che phủ ở những thời điểm nhất định trong năm. Ở những khu vực lạnh hơn, sự hiện diện của băng có thể ngắn hơn tới hàng tháng cho tới năm 2050 (Fitzharris,1996) [15]. Fickling (2006) [16] cũng cho thấy ở Châu Âu, mùa xuân đến sớm hơn và mùa thu bắt đầu muộn hơn do biến đổi khí hậu.
Điều này khiến cho mùa hè trở nên dài hơn, sự tăng lên của số ngày nắng nóng cũng đƣợc quan sát thấy rất rõ. Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu và biến đổi mùa khí hậu ở Việt Nam Trong những năm qua, Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Môi trƣờng, cơ quan đi đầu trong các nghiên cứu về biến đổi khí hậu, đã chủ trì thực hiện hàng loạt nghiên cứu về biến đổi khí hậu nhƣ: Chiến lƣợc quốc gia giảm phát thải khí nhà kính với chi phí thấp nhất; Vấn đề kinh tế của việc hạn chế phát thải khí nhà kính; Chiến lƣợc quốc gia về cơ chế phát triển sạch; Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu ở lƣu vực sông Hƣơng và chính sách thích nghi ở huyện Phú Vang (tỉnh Thừa Thiên Huế); Lợi ích của thích ứng với biến đổi khí hậu từ các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đồng bộ với phát triển nông thôn; Tác động của biến đổi khí hậu lên tài nguyên nƣớc và các biện pháp thích ứng; Các kịch bản về nƣớc biển dâng và khả năng giảm thiểu rủi ro do thiên tai ở Việt Nam. Viện đã chủ trì biên soạn “Thông báo quốc gia lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ƣớc Biến đổi khí hậu” và nhiều nghiên cứu khác. Những kết quả nghiên cứu đã giúp nâng cao hiểu biết và nhận 8 (LUAN.nam002 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam002 thức về biến đổi khí hậu.