CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG NGHIÊN c ứ u 1. G iáo dục và đo lường giáo dục 1.1 Quan niệm về giáo dục Có rất nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục trong lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu. Có quan niệm cho rằng “giáo dục là tất cả các dạng học tập của con người. Ở đâu có sự hoạt động và giao lưu nhằm truyền đạt và lĩnh hội những giá trị và kinh nghiệm xã hội thì ở đó có giáo dục”.
Theo một nghĩa hẹp hơn giáo dục là một quá trình được tô chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm của xã hội loài người. Nơi tổ chức giáo dục một cách có hệ thống, có kế hoạch chặt chẽ là nhà trường. Ở đây, việc tổ chức quá trình giáo dục chủ yểu do những người có kinh nghiệm, chuyên môn đảm nhiệm đó là những thầy giáo, những nhà giáo dục. v ề cơ bản các giáo trình/tài liệu nghiên cứu về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục được coi là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người”.
Quan niệm này nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không thấy nói đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó. Dewey (1916) cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, dạy dỗ. Theo nghiên cứu này, cá nhân con người không bao giờ vượt qua được qui luật của sự chết, và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiên thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội.
Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội. Hơn nữa, Dewey (1916) cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy. 6 Tuy nhien, ca hai each đinh nghĩa hoặc hiêu như trên vê giáo dục vẫn chủ trọng đen khia cạnh xã hội của giáo dục nhiêu hon. Còn con người thì sao? Dù ràng so với hon 7,2 tỉ người trên thế giới, thì sự xuất hiện hay biến mất của mọt ca the người dường như chăng là vân đê gì đáng quan tâm, nhưng mỗi cá nhân vẫn là độc nhất vô nhị và họ vẫn là một giá trị không thể thay thế, vẫn có quyền và cần được hạnh phúc.
Từ “giáo dục” trong tiếng Anh là "education". Đây là một từ gốc Latin ghép bởi hai từ: "Ex" và "Ducere" _ "Ex-Ducere". Có nghĩa là dẫn ( Ducere ) con người vượt ra khỏi ("Ex") hiện tại của họ mà vươn tới những gì thiện hảo, tốt lành hơn, hạnh phúc hơn. Quan niệm thứ ba có tính nhân bản cao hơn.
Trong quan niệm thứ ba này sự hoan thiẹn cua môi cá nhân mới là mục tiêu sâu xa của giáo dục, người giáo dục (thê hệ trước) có nghĩa vụ phải dẫn hướng, phải chuyển lại cho thể hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau phát triển hơn, hạnh phúc hơn.2 Bản chất của giảo dục Giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người. Giáo dục mang một sổ đặc điểm thể hiên bản chất. Giáo dục là một hiện tượng xã hội. Là hiện tượng nảy sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, nó phản ánh những mối quan hệ, những dạng hoạt động khác nhau của con người.
Giao dục xuat hiện cùng sự xuât hiện xã hội loài người. Người lớn dạy cho trẻ em những gì họ đã tích lũy, ngược lại, trẻ em học ở người lớn những điều đó. Lúc đầu công việc này được thực hiện tự phát, sau đó được tổ chức một cách tự giác, ta gọi đó là hiện tượng giáo dục. Dấu hiện bản chất của hiện tượng giáo dục được thể hiện ở “Sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội- lịch sử”.
Chủ thể của sự truyền đạt là thế hệ đi trước- chủ thể của sự lĩnh hội là thế hệ đi sau; nội dung của truyền đạt là kinh nghiệm xã hội- lịch sử. 7 Giấ° dục mang tính kinh nghiệm xã hội. Là một hệ thống những tri thức hệ thông phương thức, cách thức tiến hành hành động, hệ thống thái độ trong việc đánh giá cảm xúc, giá trị đối với nền văn hóa do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử. Giắ° dụl đổi với cá nhểru Nhờ sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội- lịch sử mà mỗi cá nhân có thể tái tạo ra năng lực người cho bản thân, nhờ đó có sự phát triển tâm lý, ý thức và phát triển nhân cách.
Giè° dục và xã hộL Nhờ sv truyền đạt và lĩnh hội này mà thế hệ đi sau có thể bảo tôn và phát triển nền văn hóa. Như vậy, một XH muốn tồn tại và phát triển thì XH ấy phải thực hiện chức năng GD. Đây chính là một tính quy luật của sự phát triển, tiến bộ XH.3 Đ o lư ờ n g g iá o d ụ c Giáo dục là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người nhằm mục đích truyền đạt lại những kinh nghiệm lịch sử, hoàn thiện bản thân. Giáo dục phát triển giup cho xã hội phát triển mạnh, đẩy mạnh công bằng xã hội, tăng trưởng kinh tể môi cá nhân được hoàn thiện hơn.
Vì vậy, giáo dục là vấn đề được xã hội, nhà nước và cá nhân quan tâm và luôn mong muốn giáo dục ngày một phát triển. Tuy nhiên đê đánh giá được giáo dục, để ngày hoàn thiện hơn về giáo dục thì phải đo lường được nó. Vì vậy, đo lường và đánh giá giáo dục được ra đời. Đo lường giáo dục là một nhánh khoa học sử dụng việc đánh giá và phân tích sô liệu đánh giá trong giáo dục để suy ra năng lực, trình độ của người được đánh giá (thí sinh).
Đo lường là gán các con số vào các cá thể sự vật theo một hệ thống quy tắc nào đó để biểu diễn đặc tính của sự vật đó. Còn đánh giá là đưa ra phán quyết về mức độ giá trị hoặc chất lượng của sự vật đó. Như vậy, đo lường chi đễ thu được các con số chứ chưa phán xét về sự vật gắn vói con số đó ở mức độ giá trị hoặc chất lượng nào; còn đánh giá là phán xét về mức độ giá trị hoặc chắt lượng cùa sự vật, tức là nhận định sự vật là lớn hay bé, cao hay thấp, tốt hay xấu. 8 Quan hệ giữa đo lường và đánh giá là đo lường nhằm cung cấp số liệu để đánh giá kêt quả đo lường là căn cứ để đánh giá.
Thao tác đo lường trong giáo dục thường là tiến hành các bài kiểm tra trên các thí sinh bằng trắc nghiệm khách quan (lựa chọn trả lời) hoặc tự luận (bài viết đủ dài) roi phan tích ket quả của các bài kiêm tra đê ước lượng rút ra các con số bằng đặc trưng cho các câu hỏi và năng lực của thí sinh. Trong lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu, giáo dục của cá nhân thường được đo bằng nhiều thước đo khác nhau trong đó phổ biến hơn cả là một số chỉ số sau đây: - Bằng cấp đạt được cao nhất của mỗi cá nhân; - Số năm học trung bình; Nội dung cụ thể của các thước đo giáo dục được tìm hiểu rõ trong những phần sau.2 Sự tham gia lao động 1. T h a m g ia lự c lư ợ n g la o đ ộ n g Theo tổ chức lao động quốc tể (ILO) cho rằng “lực lượng lao động là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp”. Theo quan điểm của tổng cục thống kê Việt Nam thì “lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế hiện tại) bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm (đang làm việc) và những người thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu (7 ngày trước thời điểm quan sát)”.
Như vậy theo những quan điểm trên thì lực lượng lao động bao gồm cả những người có việc làm và những người thất nghiệp. Những người đang có việc làm là những người làm việc trong khoảng thời gian xác định trong cuộc điều tra, kể cả làm việc cho gia đình được trả công hoặc tạm thời nghỉ việc do việc ốm đau, tai nạn, tranh chấp lao động hoặc nghỉ lễ hoặc ngừng việc tạm thời do thời tiết xấu hay trục trặc dây truyền thiết bị Những người thất nghiệp bao gồm những người trong khoảng thời gian xác đinh của cuộc điêu tra không có việc làm. Nó cũng bao gồm cả những người trước 9 đó không tìm được việc làm vì lý do ốm đau, tai nạn tạm thời mà họ không có thỏa thuận sẽ bắt đầu công việc mới ngay sau khoảng thời gian xác định ở trên, hoặc họ tạm thời nghỉ hoặc nghỉ không có thời hạn mà không được trả công ở những nơi mà cơ hội kiêm việc làm rất hạn hẹp. Khối thất nghiệp cũng bao gồm những người không có việc làm, có khả năng lao động mặc dù họ không tích cực tìm kiếm việc làm vì họ tin rằng không có cơ hội làm việc nào mở ra đối với họ.1 Quan điểm về cung lao động Cung lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhà nước có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động, những người ngoài độ tuôi lao động (trên độ tuôi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Nguôn cung lao động được hình thành từ các cơ sở đào tạo như các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác.
Nguồn cung này có thể từ những người đang tìm việc làm, từ các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.Nó được bo sung thương xuyên từ đội ngũ những người đên độ tuôi lao động và những người trên độ tuổi lao động đang làm việc. Cung về lao động phụ thuộc vào quy mô cơ cấu dân số của một nước, chất lượng của nguồn lao động (Trình độ văn hóa cơ câu ngành nghề, sức khỏe.phong tục, tập quán xã hội của một nước và chính sách phát triển nguồn nhân lực của nước đó. Cũng giông như các yêu tố khác của xã hội, nguồn cung lao động cũng có tính hai mặt đó là số lượng và chất lượng của cung lao động.