Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 12 Chương 2: Cơ sở lý thuyết 2. Các khái niệm liên quan Trong thời gian vừa qua, các Ngân hàng đã và đang có sự thay đổi trong cơ cấu thu nhập của mình theo hướng giảm dần thu từ lãi và tích cực gia tăng thu từ các hoạt động ngoài lãi như: dịch vụ, đầu tư, chứng khoán, môi giới, tư vấn… Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Theo Stiroh (2004), DeYoung và Rice (2004) việc kết hợp các dịch vụ ngân hàng, gia tăng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi sẽ tạo ra thu nhập ổn định, tối ưu hóa chi phí quản lý và từ đó cải thiện hiệu quả kinh doanh cho các NHTM. Hiệu quả hoạt động ngân hàng và đo lường hiệu quả hoạt động Các NHTM hoạt động với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận với mức độ rủi ro là thấp nhất có thể.
Theo lý thuyết hệ thống thì HQHĐ của NHTM có thể được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Theo Berger và Mester (1997) thì HQHĐ của các NHTM thể hiện ở mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí sử dụng các nguồn lực hay chính là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh. Như vậy, HQHĐ của NHTM có thể được hiểu theo 3 hướng: Một là, tối thiểu hóa chi phí, tức là sử dụng ít nhất các yếu tố đầu vào như vốn, cơ sở vật chất, lao động… để tạo ra đầu ra như trước; Hai là, giữ nguyên đầu vào nhưng tạo ra lượng đầu ra nhiều hơn; Ba là sử dụng nhiều yếu tố đầu vào hơn nhưng lượng đầu ra được tạo ra tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng đầu vào. Trong nghiên cứu này, Các NHTM được coi là hoạt động hiệu quả nếu nó đạt đến mức tối đa về kết quả đầu ra trong điều kiện sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào cho trước.
Theo Berger và Humphrey (1997), Heffernan và Fu (2008), phân tích HQHĐ của NHTM thường sử dụng hai phương pháp chính là: phương pháp sử dụng các chỉ số tài chính và phương pháp phân tích hiệu quả biên. 13 Phương pháp sử dụng các chỉ số tài chính Các chỉ số tài chính là công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá, phân tích và phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Mỗi chỉ số cho biết mối quan hệ giữa hai biến số tài chính qua đó cho phép phân tích và so sánh giữa các chi nhánh, các ngân hàng và phân tích xu hướng biến động của các biến số này theo thời gian. Có nhiều loại hệ số tài chính được sử dụng để đánh giá các khía cạnh hoạt động khác nhau của một ngân hàng, các hệ số tài chính này bao gồm các tỷ số phản ánh khả năng sinh lợi, các tỷ số phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh và các tỷ số phản ánh rủi ro tài chính của một ngân hàng.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời: Phản ánh tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh. Theo thông lệ quốc tế thường được phản ánh thông qua các chỉ tiêu sau: thu lãi biên ròng (NIM), thu ngoài lãi biên ròng (NOM), thu nhập hoạt động biên (TNHĐB), hệ số thu nhập trên cổ phiếu (EPS), thu nhập ròng trên tổng tài sản (ROA) và thu nhập ròng trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE). Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh: Với chiến lược tối đa hóa lợi nhuận, các ngân hàng thương mại thường nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình bằng cách giảm chi phí hoạt động, tăng năng suất lao động trên cơ sở tự động hóa và nâng cao trình độ nhân viên. Bởi vậy, các thước đo phản ánh tính hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng và năng suất lao động của nhân viên gồm các chỉ tiêu sau: Tổng chi phí hoạt động/tổng thu từ hoạt động, Năng suất lao động (Thu nhập hoạt động/Số nhân viên làm việc đầy đủ thời gian), Tổng thu hoạt động/tổng tài sản.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính: Ngoài việc quan tâm đến việc nâng cao giá trị cổ phiếu và đẩy mạnh khả năng sinh lời, thông thường trong hoạt động của mình các ngân hàng thương mại cũng thực hiện việc kiểm soát chặt chẽ những rủi ro mà họ phải đối mặt. Trong một nền kinh tế có nhiều biến động như hiện nay, khiến các nhà quản trị ngân hàng tập trung nhiều hơn vào công việc kiểm soát và đo lường rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, đó là: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro phá sản và rủi ro thu nhập. 14 Trong phân tích hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại hiện nay, thì các tỷ số tài chính vẫn được sử dụng khá phổ biến vì chúng khá đơn giản và tương đối dễ hiểu trong phân tích, tuy nhiên chính mức độ đơn giản của nó có thể trở thành vấn đề khá phức tạp nếu các nhà quản lý cố gắng đưa ra một bức tranh tổng thể khi kết hợp nhiều mặt, nhiều khía cạnh hoạt động khác nhau của ngân hàng. Vì mỗi tỷ số chỉ cho biết hay đánh giá mỗi quan hệ tỷ lệ giữa hai biến số cụ thể, không có một tỷ số nào cho chúng ta các kết luận tổng quát về tình trạng của một ngân hàng, do đó, trong việc đánh giá tổng quan thực trạng của một ngân hàng cần phải xem xét một loạt các chỉ số.
Việc xem xét đồng thời hoặc việc tổng hợp các kết quả phân tích từ các tỷ số khác nhau có thể đưa đến nguy cơ nhầm lẫn trong việc đánh giá hoạt động của các ngân hàng vì các chỉ số này chỉ là những chỉ số phân tích đơn. Để khắc phục các nhược điểm trong phân tích của các hệ số tài chính này gần đây các nhà kinh tế đã ứng dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, đây là một phương pháp mới và hiện đại nó giúp chúng ta có thể nhìn thấy một bức tranh tổng thể trong hoạt động của các ngân hàng. Phân tiếp theo sẽ trình bày các phương pháp này. Phương pháp phân tích hiệu quả biên Bên cạnh cách tiếp cận theo các chỉ số tài chính, hiện nay trên thế giới còn sử dụng phương pháp tiếp cận phân tích hiệu quả biên trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Phương pháp này tính toán chỉ số hiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của các đơn vị (ngân hàng) với một đơn vị thực hiện hoạt động tốt nhất trên biên (biên này được tính từ tập số liệu). Công cụ này cho phép ta tính được chỉ số hiệu quả chung của từng ngân hàng dựa trên hoạt động của chúng và cho phép xếp hạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Hơn nữa, cách tiếp cận này còn cho phép các nhà quản lý xác định được thực tế hoạt động tốt nhất hiện tại trong đánh giá hệ thống của ngân hàng mình và đồng thời cho phép các nhà quản lý mở rộng khả năng hoạt động thực tế tốt nhất ở những nơi có thể áp dụng được và qua đó cải thiện được hiệu quả hoạt động kinh doanh toàn bộ của ngân hàng. 15 Phương pháp phân tích hiệu quả biên có thể được chia làm hai nhóm đó là cách tiếp cận tham số và cách tiếp cận phi tham số.
Cách tiếp cận tham số đòi hỏi phải chỉ định một dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả, và có chỉ định của phân phối phi hiệu quả hoặc sai số ngẫu nhiên. Tuy nhiên nếu việc chỉ định dạng hàm sai thì kết quả tính toán sẽ ảnh hưởng ngược chiều đến các chỉ số hiệu quả. Các hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tài chính ngân hàng khá phức tạp cùng với các nguồn lực của yếu tố đầu vào – đầu ra đa dạng từ nhiều nguồn nên cách tiếp cận tham số thường được ít sử dụng trong việc đánh giá HQHĐ của NHTM. Cách tiếp cận phi tham số không đòi hỏi các ràng buộc về hình dáng của đường biên thực hiện tốt nhất, cũng như không đòi hỏi các ràng buộc về phân phối của các nhân tố phi hiệu quả trong số liệu như cách tiếp cận tham số, trừ ràng buộc các chỉ số hiệu quả phải nằm giữa 0 và 1, và giả sử không có sai số ngẫu nhiên hoặc sai số phép đo trong số liệu.
Phương pháp thường được sử dụng trong cách tiếp cận phi tham số là phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA ((Data Envelopment Analysis), đây là phương pháp được sử dụng ngày càng phổ biến để đo lường hiệu quả trong hoạt động kinh doanh NH hiện đại (Grigorian, 2002). Phương pháp DEA được khởi xướng bởi Farrel (1957) và sau này được tiếp tục phát triển bởi Charnes, Cooper và Rhodes (1978); Banker, Charnes và Cooper (1984) và nhiều nhà khoa học khác nhằm đo lường hiệu quả kinh tế của một doanh nghiệp hay một đơn vị (Decision Making Unit – DMU). Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng, nếu có thể ước lượng được đường giới hạn khả năng sản xuất của một đơn vị dựa trên tập hợp các biến đầu vào cho trước thì có thể xác định được hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào đó dựa trên tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt được và khả năng sản xuất. DEA cho phép xác định hiệu quả tương đối của các đơn vị hoạt động trong một hệ thống phức tạp.
Theo DEA thì một đơn vị hoạt động tốt nhất sẽ có chỉ số hiệu quả là 1, trong khi đó chỉ số của các đơn vị phi hiệu quả được tính bằng việc chiếu các đơn vị phi hiệu quả lên trên biên hiệu quả.