CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỌNG NHAN TIEN GỬI CỦA NHTM Lịch sử ra đời của NHTM gắn liền với lịch sử phát triển của sản xuất lưu thông hàng hóa và lịch sử phát triển của tiền tệ. Trong quá trình hình thành và phát triển, hoạt động NHTM không ngừng lớn mạnh về quy mô cũng như cung ứng sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng. Vai trò của NHTM được biểu hiện ở các chức năng của nó như tạo tiền, tổ chức thanh toán, huy động. vốn, mở rộng tín dụng, tài trợ ngoại thương, dịch vụ ngân hàng.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, NHTM đã trở thành những trung. gian tài chính lớn nhất và quan trọng nhất. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguôn vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn tín dụng to lớn phục vụ cho phát triển kinh tế. Thông qua những hoạt động của mình, NHTM đã thực hiện nhiệm vụ khơi tăng nguồn vốn từ những nơi thừa vốn chuyên đến những, nơi thiếu vốn, tạo điều kiện thúc đây tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và cải thiện mức sống cho dân cư, góp phần quan trọng trong việc điều hòa lưu thông tiền tệ, ôn định sức mua đồng tiền, kiểm soát lạm phát trong điều hành chính sách vĩ mô của các quốc gia.
Với tư cách là trung gian tài chính, NHTM không chỉ là trung gian luân chuyển vốn mà còn là trung gian cung cấp các dịch vụ thanh toán, môi giới và tư vấn. Tính chất phức tạp của các nghiệp vụ ngân hàng ngày cảng được tăng, lên, do đó rất khó có một định nghĩa “ngân hàng” hoàn chỉnh. Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 theo khoản 3 Điều 4 có ghi “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Trong đó “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. NGUON VON TRONG HOAT DONG KINH DOANH CUA NHTM Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội để hoạt động kinh doanh là nghiệp vụ quan trọng nhất của các NHTM.
Trong bảng tông kết tài sản, toàn bộ nguồn vốn của ngân hàng thể hiện bên tài sản Nợ (bao gồm các khoản nợ phải trả cho người khác và vốn chủ sở hữu). Vốn chủ sở hữu 'Vốn thuộc sở hữu của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập được và thuộc sở hữu ngân hàng với các nguồn hình thành khác. Nếu la ngân hang thuộc sơ hữu nha nược thì do ngân sách Nha nược cấp, nếu la ngân hang tư nhân thỉ đo là vốn do cac ca nhân bo ra, nếu là ngân hang cổ phần thì do cổ đông đong gop, con nếu lä ngân hang liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh gop. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn điều lệ và vốn bỗ sung trong quá trình hoạt động như: quỳ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm theo một tỷ lệ nhất định nhằm tăng cường vốn chủ sở hữu của ngân hàng; quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động.
kinh doanh ngân hàng; lợi nhuận chưa phân bổ và các quỳ nghiệp vụ khác (quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, khẩu hao, quỹ phát triển nghiệp vụ kỹ thuật ngân hàng,. Đặc điểm của nguồn vốn này là rất ôn định, chức năng chủ yếu của vốn chủ sở hữu bao gồm chức năng bảo vệ, chức năng hoạt động và chức năng điều chỉnh. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng lại là nguồn vốn rất quan trọng vì nó cho thấy thực lực, quy mô của ngân hàng và là cơ sở đề thu hút các nguồn vốn khác, là khởi đầu tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Vốn huy động từ nhận tiền gửi 'Vốn huy động từ nhận tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu của NHTM, được hình thành từ hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng trên thị trường, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng, với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ theo thỏa thuận giữa ngân hang và khách hàng.
Các ngân hàng nhờ nắm được quyền sử dụng số tiền nhàn rỗi của khách hàng, họ sẽ mang cho vay hoặc đầu tư để kiếm lời. Đối với người gửi tiền, nghiệp vụ huy động vốn từ nhận tiền gửi không, chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng. Nghiệp vụ huy động vốn từ tiền gửi cung cấp cho khách hàng. một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai.
Mặt khác, nghiệp vụ huy đông vốn từ tiền gửi còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cắt trữ và tích luỹ vốn tạm thời nhàn rỗi. Cuối cùng, nghiệp vụ huy động vốn từ tiền gửi giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng. Ngoài lãi suất thì nhu cầu giao dịch vơi những tiện lợi nhanh chong va an toan la yéu tổ cơ ban để họ quan tâm khi gưi tiền vao ngân hảng. Đối với bản thân các ngân hàng, vốn huy động từ tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu, luôn chiếm tỷ trọng rất lớn khoảng 60% - 90% tổng nguồn vốn.
Hoạt động của ngân hàng hau như dựa hãn vào nguồn vốn này và đây chính là nguồn vốn tạo ra nguồn lực tài chính cho ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng, luôn nỗ lực tìm mọi biện pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh, thu hút ngày cảng nhiều vốn nhàn rồi, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Đề làm được điều này, trước hết các ngân hàng phải từng bước đa dạng hóa các phương thức huy động vốn, kết hợp với một cơ chế lãi suất linh hoạt và các dịch vụ tiện ích khác nhằm thu hút khách hàng 1. Vốn đi vay (Phi tiền gửi) Vốn đi vay thường chiếm một tỷ trọng nhất định trong kết cấu nguồn vốn của NHTM nhưng rất cần thiết và có vai trò quan trọng đảm bảo cho.
ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình thường. Vay của NHTW: NHTW là ngân hàng của các ngân hàng, là chỗ dựa của các NHTM trong trường hợp thiếu khả năng chỉ trả, những khoản vay NHTW của các NHTM thường gồm ba nhóm chính: Thứ nhất, những khoản tiền vay ngắn hạn mà các NHTM vay từ NHTW để giải quyết nhu cầu chỉ trả hàng ngày và thường được hoàn trả trong một ngày giao dịch Thứ hai, những khoản tiền mà NHTW cho các NHTM vay theo nhu cầu thời vụ. Thứ ba, những khoản tiền mả NHTM vay từ NHTW khi gặp khó khăn về khả năng thanh toán hay do những thay đổi lớn trong lãi suất và tỷ giá theo. hướng bắt lợi làm xảy ra hiện tượng tiền gửi bị rút ra một cách 6 at ma ban thân NHTM không thể đáp ứng một cách đầy đủ, kịp thời bằng các biện pháp thông thường.
Trong những tình huống này, NHTW có thể hỗ trợ tài chính cho các NHTM dưới hai hình thức là cho vay chiết khấu và cho vay tái cắp vồn, ở đây 'NHTW đóng vai trò là “người cho vay cuối cùng”. Vay các TCTD khác thông qua thị trường liên ngân hàng: Trong trường hợp phải đáp ứng nhu cầu dự trữ và chỉ trả cấp bách nhằm bổ sung hoặc thay thế nguồn vốn vay từ NHTW, NHTM buộc phải vay mượn lẫn nhau và vay các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng. Khi đó, lãi suất mà NHTM phải chấp nhận thường cao hơn lãi suất huy động từ các nguồn khác. Khoản vay đó có thể không cần đảm bảo hoặc đảm bảo bằng các chứng.
khoán, trái phiếu dải hạn Vay nước ngoài: NHTM chỉ được vay nước ngoài nếu có bảo lãnh, đồng thời phải chịu sự kiểm soát về hạn mức vay cũng như thời hạn vay của NHTW. Vốn nhận ủy thác đầu tư và các nguồn vốn khác NHTM có thể nhận vốn ủy thác đầu tư của Nhà nước, của các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Chau A (ADB), Quy hỗ trợ phát triển Pháp (AFD). theo các chương trình, dự án với mục tiêu riêng như: phát triển nông thôn, xây dựng nha 6 va co sé ha tang, cai tạo môi trường, môi sinh,. Ngoài ra, NHTM còn có các nguồn vốn khác như: thuế, lương, nợ cổ đông về lợi tức phải trả nhưng chưa tới kỳ hạn thanh toán.
CÁC CÔNG CỤ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NHTM Các tài liệu học thuật đều phân loại hoạt động huy động vốn của NHTM thành 2 hình thức là: huy động qua tiền gửi và các khoản vốn vay phi tiền gửi (non — đeposit borrowing). Theo định nghĩa, hoạt động nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Do đó, các công cụ được sử dụng trong hoạt động nhận tiền gửi rất đa dạng. Bản chất của các công cụ này là những công cụ tài chính mà các NH phát hành cho công chúng, Ở một khía cạnh khác, có thể xem chúng là các sản phẩm dịch vụ tiền gửi mà NH cung cấp cho công chúng.
Xu hướng chung là các NH cung cấp một danh mục ngày càng da dang các công cụ tiền gửi cho khách hàng lựa chọn. Vì vậy, khó có thể liệt kê chỉ tiết tắt cả các loại công cụ này. Tuy nhiên, về phương diện nghiên cứu, các loại công cụ sau đây là chủ yếu: 10 1. Tiền gửi thanh toán Ở một số nước, công cụ này có thê mang nhiều tên gọi khác nhau.
Chẳng hạn, ở Mỹ nó có thể có tên là Tiền gửi phát séc, Tiền gửi giao dịch, Tiền gửi theo nhu cầu, Tiền gửi thanh toán. Tiền gửi thanh toán là một loại tiền gửi không kỳ hạn dùng cho mục. đích thanh toán, nên trong hạch toán kế toán của các NHTM Việt Nam nó được phân loại thành tài khoản tiền gửi không kỳ hạn.