Chương 1: Cơ sở lý thuyết về các nhân tố tác ñộng ñến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại - Chương 2: Thực trạng sự ảnh hưởng của các nhân tố ñến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam - Chương 3: Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác ñộng ñến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam - Chương 4: Những giải pháp và kiến nghị góp phần nâng cao tỷ suất sinh lời tại các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hiệu quả hoạt ñộng kinh doanh của NHTM Hiệu quả hoạt ñộng kinh doanh của các NHTM là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình ñộ sử dụng các nguồn lực ñã có ñể ñạt ñược kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất. Hiệu quả hoạt ñộng kinh doanh của các NHTM quyết ñịnh trực tiếp tới vấn ñề tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng.
Nếu NHTM hoạt ñộng có hiệu quả kinh doanh thì uy tín của ngân hàng ñó sẽ ñược tăng lên, người gửi tiền sẽ yên tâm và tin tưởng, do ñó công tác huy ñộng vốn của ngân hàng sẽ ñược thuận lợi và phát triển. Trên cơ sở nguồn vốn huy ñộng tăng dó, NHTM mới có khả năng mở rộng quy mô hoạt ñộng kinh doanh của mình và tạo ra ñược lợi nhuận ngày càng cao, tích lũy ñược nhiều và có ñiều kiện nâng cao chất lượng phục vụ ñể thu hút khách hàng và tạo ra hiệu quả ngày càng tăng. Chính vì vậy mà các NHTM coi hiệu quả là mục tiêu quan trọng hàng ñầu của hoạt ñộng kinh doanh. Hiệu quả hoạt ñộng kinh doanh của các NHTM ñược ñánh giá thông qua năng lực tài chính của ngân hàng ñược thể hiện ở các chỉ tiêu ñảm bảo an toàn trong hoạt ñộng kinh doanh của NHTM như chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu, giới hạn tín dụng ñối với khách hàng,.
và năng lực về hoạt ñộng kinh doanh, trong ñó các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời thường ñược nhắc ñến nhiều nhất. Hiệu quả hoạt ñộng kinh doanh của NHTM ñược ño lường một cách tổng quát thông qua tỷ lệ giữa lợi nhuận ñối với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận ñó phản ánh tỷ suất sinh lời của NHTM, nó ñược quyết ñịnh bởi mức lãi thu ñược từ các khoản cho vay, ñầu tư, bởi nguồn thu từ hoạt ñộng dịch vụ, bởi quy mô, chất lượng và thành phần của tài sản có. Việc phân tích hiệu quả hoạt ñộng kinh doanh NHTM thông qua các tỷ số phải ñược xem xét qua nhiều thời kỳ khác nhau ñể thấy ñược xu hướng phát triển và quy luật vận ñộng của chúng, ngoài ra việc nghiên cứu còn phải dựa vào thực tiễn môi trường hoạt 6 ñộng kinh doanh, từ ñó sẽ dễ dàng xác ñịnh nguyên nhân tăng giảm của các chỉ tiêu và ñưa ra các giải pháp phù hợp.
Tỷ suất sinh lời của các NHTM Lợi nhuận của ngân hàng luôn là vấn ñề ñược các nhà quản trị ngân hàng quan tâm hàng ñầu vì ngân hàng có lợi nhuận cao, bền vững sẽ có khả năng phát triển cao, ñủ sức cạnh tranh trong môi trường hội nhập quốc tế. Lợi nhuận phản ảnh kết quả hoạt ñộng, ñánh giá hiệu quả kinh doanh và mức ñộ phát triển của một NHTM. Đứng trên góc ñộ từ NHTM, thì một NHTM có lợi nhuận cao, sẽ có ñiều kiện trang bị, ñầu tư công nghệ, từ ñó nâng cao chất lượng dịch vụ thu hút khách hàng; mặt khác ñứng trên góc ñộ nhà ñầu tư, người gửi tiền sẽ quyết ñịnh giao dịch khi nhìn thấy NHTM ñó có thể an toàn do có thể bù ñắp rủi ro, từ ñó tạo ñiều kiện tăng trưởng tổng tài sản. Tỷ suất sinh lời là một trong các yếu tố phản ánh hiệu quả hoạt ñộng kinh doanh của ngân hàng.
Theo thông lệ quốc tế người ta thường ño lường lợi nhuận của NHTM bằng các chỉ tiêu ñịnh lượng: giá trị tuyệt ñối của lợi nhuận sau thuế, tốc ñộ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận và ñặc biệt là các chỉ tiêu thể hiện tỳ suất sinh lời như tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)…Nhóm chỉ số này càng cao cho thấy ngân hàng kinh doanh càng có hiệu quả. Theo Horward và Upton, tỷ suất sinh lời (hay khả năng sinh lời) là khả năng của một sự ñầu tư nhất ñịnh có thể tạo ra lợi nhuận. Một số người hay nhầm lẫn giữa khái niệm lợi nhuận và khả năng sinh lợi. Đôi khi, thuật ngữ “lợi nhuận” và “tỷ suất sinh lời” ñược sử dụng thay thế cho nhau.
Nhưng trong thực tế, hai thuật ngữ này khác nhau về mặt ý nghĩa. Lợi nhuận là thuật ngữ tuyệt ñối, ñề cập ñến tổng thu nhập của ngân hàng trong thời gian nhất ñịnh; trong khi tỷ suất sinh lợi là một khái niệm tương ñối, ñề cập ñến hiệu quả hoạt ñộng của ngân hàng. Các chỉ số ño lường tỷ suất sinh lời của NHTM 7 Để ño lường khả năng sinh lợi, các ngân hàng cần phải xem xét mức lợi nhuận, khả năng bù ñắp chi phí cho những thất thoát xảy ra. Khả năng sinh lợi của ngân hàng thường ñược ño lường bằng các chỉ tiêu sau ñây: 1.
Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) Tài sản của ngân hàng ñược hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu, và cả hai nguồn vốn này ñều ñược sử dụng ñể tài trợ cho các hoạt ñộng của ngân hàng thương mại. Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) là chỉ tiêu ñược sử dụng hầu hết trong các bài nghiên cứu ño lường khả năng sinh lời của các ngân hàng như Sufian(2011), Naceur và Goaied (2008)… ROA thể hiện khả năng của ñơn vị trong việc sử dụng các tài sản của mình ñể tạo ra lợi nhuận. ROA càng cao thể hiện khả năng quản lý của Ban quản trị ngân hàng trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành lợi nhuận ròng, và thể hiện hiệu quả kinh doanh cao của ngân hàng với cơ cấu tài sản sinh lời và không sinh lời khá hợp lý. Chính vì vậy, tỷ lệ ROA càng cao thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao (Davydenko, 2011).
ROA không những phụ thuộc vào các quyết ñịnh chính sách của ngân hàng mà còn phụ thuộc cả những yếu tố vĩ mô mà NH không thể kiểm soát ñược. ợ ậ ế ổ à ả Theo Rivard và Thomas (1997), ROA là chỉ tiêu tốt nhất ño lường khả năng sinh lợi của 1 ngân hàng vì ROA không bị ảnh hưởng bởi sự tăng cao của nguồn vốn và ROA thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng từ danh mục tài sản của chính ngân hàng ñó. Vấn ñề duy nhất của ROA là tỷ số trên không tính ñến các yếu tố ngoại bảng có thể ảnh hưởng ñến hoạt ñộng của ngân hàng (Davydenko, 2011). Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) là tỷ lệ giữa thu nhập thuần trên tổng vốn chủ sở hữu.
Nó thể hiện 1 ñồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu ñồng lợi nhuận trong một thời gian nhất ñịnh (thường là 1 năm). Nói cách khác, ROE 8 ñánh giá lợi ích mà cổ ñông (chủ sở hữu ngân hàng) có ñược từ nguồn vốn bỏ ra.Nghiên cứu ROE sẽ chỉ ra cách ngân hàng ñã sử dụng nguồn vốn ñầu tư của mình như thế nào ñể tạo ra lợi nhuận (Gul, Irshad và Zaman (2011)). ợ ậ ế ổ ố ủ ở ữ Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ NHTM sử dụng hiệu quả ñồng vốn của cổ ñông, cân ñối hài hòa giữa vốn cổ ñông và vốn ñi vay ñể khai thác lợi thế của mình trong quá trình huy ñộng vốn, mở rộng quy mô. Vì thế hệ số ROE càng cao thì cổ phiếu ngân hàng ñó càng hấp dẫn nhà ñầu tư.
Các nhà quản trị ngân hàng luôn muốn tăng ROE ñể thoả mãn yêu cầu của cổ ñông thông qua nhiều biện pháp như kiểm soát rủi ro có hiệu quả, hạn chế khoản vay xấu… Theo Davydenko (2011), ñể ñánh giá tốt nhất khả năng sinh lời, cần xem xét cả 2 chỉ số ROA và ROE dù 2 chỉ số này mang ý nghĩa khác nhau nhưng cả 2 ñều chỉ ra hiệu quả quản lý trong việc tạo ra lợi nhuận từ tiền ñầu tư của cổ ñông và sự ñầu tư vào danh mục tài sản của các ngân hàng. Các chỉ số khác Ngoài hai chỉ số ROA và ROE, TSSL của các NHTM còn ñược ño lường bằng các chỉ số khác trong các bài nghiên cứu của các tác giả khác như : Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Trong các nghiên cứu của Rose (1999), Liu và Wilson (2010), Dietrich và Wanzenried (2011) tỷ lệ thu nhập lãi cận biên làm biến phụ thuộc ñể phân tích các nhân tố tác ñộng ñến khả năng sinh lời của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao, thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao. NIM ñược xác ñịnh bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi trên tổng tài sản có sinh lời bình quân.
Trong ñó, tổng tài sản có sinh lời bình quân ñược xác ñịnh theo các khoản mục tiền gửi tại NHNN, tại các tổ chức tín dụng, cho vay các tổ chức tín dụng khác, cho vay khách hàng, chứng khoán ñầu tư. 9 NIM chỉ ra năng lực của hội ñồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, ñầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ) (Rose,1989). Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát tài sản sinh lời và ñánh giá nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất. Tuy nhiên, NIM không tính ñến phí dịch vụ cũng như những thu nhập ngoài lãi khác và chi phí hoạt ñộng, như chi phí nhân sự và tài sản, hoặc chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, nên NIM không phản ánh ñược toàn diện tính sinh lời của toàn ngành ngân hàng (Naceur và Goaied, 2008).
Tỷ lệ thu nhập trên vốn sử dụng (ROCE) Tỷ lệ thu nhập trên vốn sử dụng là chỉ số thể hiện khả năng thu lợi nhuận của ngân hàng dựa trên lượng vốn ñã sử dụng và ROCE càng cao thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao (Gul, Irshad và Zaman (2011)).