Mở đầu. Chương này nêu ra lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Nội dung chương này nêu lên các cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng, đặc biệt tại khu vực nông thôn.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Mục đích của chương mô tả phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu được thực hiện trong luận văn, trình bày cách thức thu thập dữ liệu, quá trình thu thập dữ liệu và các biến đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu. 4 Chương 4: Kết quả và thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương này đưa ra các kết quả phân tích thống kê mô tả và phân tích mô hình Probit, đồng thời đưa ra các nhận xét trong quá trình phân tích Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Chương này nêu lên các kết luận rút ra từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với các đối tượng có liên quan. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2 của đề tài, trình bày các lý thuyết có liên quan và các nghiên cứu trước để làm tiền đề xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng ở khu vực nông thôn.1 Lý thuyết về hành vi tiết kiệm tiền gửi Ba lý thuyết truyền thống đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm vào hành vi tiết kiệm hộ gia đình ở các nước phát triển và đang phát triển: Keynes (1936), xác định tiết kiệm như một hàm tuyến tính của thu nhập, xác định thu nhập khả dụng tuyệt đối là yếu tố quyết định của tiết kiệm. Hai lý thuyết tiếp theo về tiết kiệm của Friedman (1957) và Modigliani (1963), cho rằng các biến số khác cũng ảnh hưởng đến sự tiết kiệm của các hộ gia đình. Friedman (1957), lý thuyết này phân biệt thu nhập cố định và thu nhập tạm thời cũng như mức độ của sự giàu có hiện tại là yếu tố quyết định tiết kiệm.
Modigliani (1963), với giả định cơ bản là cá nhân tích lũy tiết kiệm từ thu nhập trong năm và mức tiêu thụ trong thời gian nghỉ hưu. Hơn nữa, lý thuyết chu kỳ cuộc sống cho thấy rằng tuổi tác cũng ảnh hưởng đến tiết kiệm, khả năng tiếp cận các tổ chức tài chính là một yếu tố quan trọng trong thúc đẩy tiết kiệm. Cung cấp các dịch vụ tài chính như chuyển tiền như thanh toán các hóa đơn, thanh toán tiền mua cây trồng cũng có thể tăng nguồn vốn tiền gửi. Khi có một mối quan hệ giữa tiết kiệm và người nông dân sẽ nhắc nhở họ gửi tiền vào ngân hàng để có một khoản tiền sẵn có khi cần thiết (Padmanabhan, 1987).
Nhưng thực tế, các kết quả thu được tại các nước đang phát triển đã có sự xuyên lệch về kết quả phân tích so với các nghiên cứu thực nghiệm tại các nước phát 6 triển. Bởi vì, các nghiên cứu tập trung vào hành vi tiết kiệm của hộ gia đình ởcác nước phát triển dựa trên cơ sở thị trường vốn hoàn hảo và không có sự ác cảm rủi ro của người dân. Như vậy, những lý thuyết này không giải thích hoàn hảo về hành vi tiết kiệm của các hộ gia đình ở các nước đang phát triển, nơi hầu hết các hộ gia đình nghèo sợ rủi ro và thị trường tài chính không hoàn hảo.2 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng 2.1 Khái niệm về hành vi tiêu dùng Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ “Hành vi tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ”. Hay nói cách khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng.
Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm… đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng. Có rất nhiều khái niệm về hành vi tiêu dùng như: Hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ (Kotler, 1967). Hành vi tiêu dùng là một tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/dịch vụ, những suy nghĩ đã có, kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ (Micheal, 1992). Hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm/dịch vụ.
Nó bao gồm cả những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động đó (James và ctg, 1993).2 Mô hình về hành vi sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng Mô hình hành vi sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng gồm các giai đoạn sau: Nhận thức nhu cầu Giai đoạn trước khi mua Tìm kiếm thông tin Đánh giá các nhà cung cấp dịch vụ Yêu cầu dịch vụ từ nhà cung cấp đã chọn Giai đoạn thực hiện Chuyển giao dịch vụ Đánh giá kết quả của dịch vụ Giai đoạn sau khi Dự định trong tương lai mua (Nguồn: Trần Hoàng Mai, Nguyễn Văn Sáu, Trịnh Quốc Trung, 2008) Hình 2.1 Mô hình hành vi sử dụng dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng không giống như nhiều hàng hóa vật chất hữu hình khác không phải chỉ mua một lần rồi kết thúc mà bao gồm hàng loạt sự tương tác trong bối cảnh của một mối quan hệ lâu dài và sự tương tác này sẽ ảnh hưởng quan trọng đến hành vi ứng xử. Khi khách hàng quyết định sử dụng dịch vụ để thỏa mãn một nhu cầu nào đó của mình thì họ trải qua một quá trình mua sắm phức tạp. Quá 8 trình này thường bao gồm 3 giai đoạn khác nhau: giai đoạn trước khi mua, giai đoạn sử dụng dịch vụ và giai đoạn sau khi sử dụng. * Giai đoạn trước khi sử dụng dịch vụ Tại thời điểm này, nhu cầu và kỳ vọng của các cá nhân và tổ chức rất quan trọng vì chúng ảnh hưởng đến những gì mà các khách hàng tiềm năng sẽ xem xét khi lựa chọn dịch vụ cũng như nhà cung cấp.
Nhu cầu xuất hiện khi khách hàng mong muốn sử dụng hay thỏa mãn thiếu thốn của cá nhân. Xuất phát từ những nhu cầu cá nhân người tiêu dùng sẽ tiến hành tìm kiếm thông tin về sản phẩm mình cần. Trước tiên người tiêu dùng sẽ sử dụng kiến thức và sự hiểu biết của mình để quyết định lựa chọn dịch vụ, vì vậy sự hiểu biết về tài chính ngân hàng, sản phẩm dịch vụ ngân hàng và các thông tin truyền thông thật sự quan trọng. Nhưng trong trường hợp khách hàng đang xem xét sử dụng một dịch vụ nào đó lần đầu tiên hoặc có tác động đến cuộc sống của mình thì khách hàng có thể tiến hành tìm kiếm thông tin thông qua các nguồn thông tin tin cậy như: - Gia đình người thân hoặc bạn bè.
- Nhờ cậy một công ty có uy tính tốt. - Tìm kiếm bảo hành và đảm bảo. - Viếng thăm cơ sở cung cấp dịch vụ. - Hỏi thăm những nhân viên có trình độ về những dịch vụ cạnh tranh.
- Kiểm tra các dấu hiệu hữu hình hoặc những bằng chứng vật chất khác. Bước tiếp theo là xác định những nhà cung cấp tiềm năng và rồi so sánh giữa lợi ích và rủi ro của từng nhà cung ứng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. * Giai đoạn thực hiện dịch vụ Sau khi quyết định mua một dịch vụ cụ thể nào đó, khách hàng sẽ liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ đã chọn. Giai đoạn thực hiện dịch vụ thường bắt đầu với việc 9 khách hàng nộp giấy yêu cầu, đề nghị hoặc phiếu đặt hàng.
Khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với nhân viên của nhà cung cấp hoặc thông qua các công cụ phi cá nhân khác như máy tính. Trong giai đoạn này các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng của người tiêu dùng gồm: - Môi trường phục vụ: bao gồm tất cả những thuộc tích hữu hình mà khách hàng có thể thấy như bề ngoài của tòa nhà, vật trang trí nội thất, máy móc, thiết bị, hương thơm, bụi bậm, tiếng ồn. Ngoài ra, sự hiện diện và hành vi của khách hàng khác cũng có thể tham gia vào quá trình tạo ra nhận thức cảm nhận về dịch vụ sử dụng. - Nhân viên ngân hàng: là yếu tố quan trọng nhất trong khi cung cấp các dịch vụ có mức độ giao tiếp trực tiếp, mặt đối mặt với khách hàng.
Những khách hàng am tường dịch vụ thường kỳ vọng các nhân viên phục vụ phải tuân thủ theo một khuôn khổ nào đó và nếu các nhân viên này tỏ ra xa rời khuôn khổ này sẽ làm cho khách hàng không hài lòng. Thực hiện dịch vụ hiệu quả nếu đứng về phía nhân viên thường có sự kết hợp giữa các kỹ năng có được thông qua học tập của những người có đúng kiểu tính cách. - Các dịch vụ hỗ trợ: bao gồm các vật liệu và thiết bị hỗ trợ cùng với quá trình ở “hậu trường” cho phép những nhân viên ở tuyến đầu thực hiện tốt công việc của mình. Điều này cũng rất quan trọng vì hiện tại khi sản phẩm của ngân hàng đều giống như nhau thì đây là dịch vụ tạo sự khác biệt và thu hút người tiêu dùng như các hình thức khuyến mãi, ưu đãi… * Giai đoạn sau khi mua Trong giai đoạn sau khi mua khách hàng tiếp tục một quá trình họ đã bắt đầu trong giai đoạn thực hiện dịch vụ - đánh giá chất lượng dịch vụ và sự hài lòng/thất vọng với sự trải nghiệm dịch vụ của họ.
Kết quả của quá trình này sẽ ảnh hưởng đến dự tính tương lai của khách hàng như họ sẽ trung thành với nhà cung cấp dịch vụ hoặc chuyển sang nhà cung cấp dịch vụ khác; họ sẽ có những bình luận tích cực/tiêu 10 cực cho gia đình, người thân, đồng nghiệp v. về nhà cung cấp dịch vụ. Khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ bằng cách so sánh những gì đã kỳ vọng với những gì đã trãi nghiệm. Nếu kỳ vọng của họ được đáp ứng hoặc được đáp ứng cao hơn thì họ sẽ tin rằng họ đã nhận được một dịch vụ có chất lượng cao.