CHƯƠNG 1 TỔNG LUẬN VỀ TÍNH DỄ TỔN THƯƠNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÍNH DỄ TỔN THƯƠNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 1. Khái niệm về tính dễ tổn thương của các ngân hàng thương mại. Thuật ngữ “tính dễ tổn thương của các NHTM” hiện nay đã được một số tác giả đề cập tới, nhưng nghiên cứu về vấn đề này đang chỉ mới dừng ở mức luận văn cử nhân, và một số bài viết rời rạc, mà chưa có một công trình khoa học kinh điển nào nghiên cứu đầy đủ về nó.
Do đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã đưa ra khái niệm tính dễ tổn thương của các NHTM có thể được hiểu như sau: Tính dễ tổn thương của các ngân hàng thương mại là sự nhạy cảm, tính dễ bị đổ vỡ của chúng trước các cú sốc nội sinh và ngoại sinh của nền kinh tế. Hay nói cách khác, tình trạng dễ tổn thương là tình trạng tài chính thiếu ổn định và thiếu an toàn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. - Ổn định là trạng thái duy trì hoạt động bình thường, không có những biến động đột ngột, thất thường trong quá trình phát triển. - An toàn là khả năng của ngân hàng bù đắp được mọi chi phí và thực hiện các nghĩa vụ của mình.
Tiêu chí an toàn được đánh giá thông qua đánh giá mức độ đủ vốn, chất lượng tín dụng (tài sản có) và chất lượng quản lý. An toàn là trạng thái không bị tác động nguy hiểm từ mọi phía, từ bên trong cũng như bên ngoài. Nói một cách rõ ràng hơn thì tính dễ tổn thương là trạng thái các tài sản dễ bị rơi vào trạng thái không ổn định, không an toàn trong khủng hoảng khiến các ngân hàng mất đi trạng thái bền vững và không thể phát triển các hoạt động kinh doanh dẫn tới sự đổ vỡ. Tính dễ tổn thương là một đặc điểm thuộc về bản chất nên luôn hiện diện trong các hoạt động ngân hàng vì các ngân hàng hoạt động chủ yếu dựa trên cơ sở niềm tin, đó chính là nguồn gốc cơ bản cho tính dễ tổn thương của các ngân hàng thương mại.
Tính dễ tổn thương của ngân hàng thương mại nguyên nhân xuất phát từ bản chất của các định chế tài chính này và các các cú sốc nội sinh của nền kinh tế. Ngân hàng là một trung gian tài chính điều tiết nguồn vốn từ những nơi thiếu vốn đến những nơi cần vốn. Chính vì hoạt động này, để có thể tạo ra được nhiều lợi nhuận, các ngân hàng ngày càng xem nhẹ các tiêu chuẩn về thẩm định chất lượng các khoản cấp tín dụng của mình, điều đó tạo ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cơ cấu tài sản có và tài sản nợ, và dễ gây ra sụp đổ cho các ngân hàng. Ngoài ra, mỗi ngân hàng lại có các chính sách tín dụng riêng biệt do ban quản trị đề ra, quản trị thiếu kiểm soát và cân nhắc sẽ mang đến những nguy hiểm cho các ngân hàng này.
Đặc điểm nổi bật nhất và không thể tách rời của các định chế tài chính nói chung hay ngân hàng nói riêng đó là sự hoạt động dựa trên niềm tin lẫn nhau giữa khách hàng với mình, khi sự tin tưởng này không còn thì sẽ xảy ra những điều vô cùng tồi tệ, có thể kéo theo sự sụp đổ hàng loạt của cả hệ thống tài chính. Mức độ tin cậy của các ngân hàng có thể được đánh giá dựa trên độ lành mạnh tài chính mà nó có được trong quá trình hoạt động kinh doanh, hiện nay thường được đánh giá qua hạng mức tín nhiệm và nhiều chỉ tiêu khác. Còn hoạt động dựa trên niềm tin với khách hàng dẫn đến khả năng “bị tổn thương”, vì việc cấp tín dụng sẽ thiếu thẩm định chặt chẽ về khả năng trả nợ của khách hàng. Một nguyên nhân khác là từ các cú sốc ngoại sinh của nền kinh tế, như môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, chính sách vĩ mô… hay đôi khi chính là hiệu ứng “domino” phát sinh và lan truyền mỗi khi có một sự kiện xuất hiện từ chính các định chế tài chính này.
Các nhân tố tác động đến tính dễ tổn thương của các ngân hàng thương mại Tính dễ tổn thương của các ngân hàng thương mại là tình trạng tài chính thiếu ổn định và thiếu an toàn trong hoạt động. Vì vậy, khi xem xét các tác động đến tính dễ tổn thương của các NHTM sẽ bao gồm nhiều yếu tố tác động đến sự thiếu ổn định và an toàn trong hoạt động của các NHTM. Các yếu tố được chia thành 2 nhóm đó là nhóm yếu tố nội sinh và nhóm yếu tố ngoại sinh. Yếu tố nội sinh bao gồm: sự mất cân đối giữa tài sản có và tài sản nợ, khả năng điều hành, quản trị rủi ro và đặc biệt là hoạt động trên sự tin tưởng.
Yếu tố ngoại sinh gồm: môi trường kinh tế, pháp lý, các chính sách vĩ mô… 1. Rủi ro thanh khoản – sự mất cân đối giữa tài sản nợ và tài sản có Tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như khả năng tức thời (the short-run ability) để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Thanh khoản có vấn đề của ngân hàng có thể do các nguyên nhân cơ bản sau đây: - Sự mất cân đối giữa tài sản nợ và tài sản có: Khi ngân hàng huy động quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác; sau đó chuyển hoá chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn. Cho nên, đã xảy ra tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền thu về từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn. Vị thế của ngân hàng và người gửi tiền là khác nhau trong quan hệ vay tín dụng cũng làm cho tình trạng mất cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ gia tăng. Do tính chất cạnh tranh trong huy động vốn nên ngân hàng có thể cho người gửi tiền rút tiền gửi bất cứ lúc nào nhằm thu hút nguồn tiền gửi, trong khi đó các khoản huy động được ngân hàng cho vay thì không thể thu hồi nếu chưa đến hạn hoặc đến hạn không thu hồi được dẫn đến ngân hàng có thể thiếu tiền khi khách hàng rút vốn ồ ạt.
- Sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và người vay vốn. Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước. Như vậy, rốt cuộc lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Hơn nữa, những xu hướng của sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ.
- Do ngân hàng có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả như: các chứng khoán đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả. Một khi rủi ro thanh khoản của ngân hàng cao thì rủi ro đổ vỡ của ngân hàng cũng sẽ cao vì vậy thanh khoản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Rủi ro tín dụng – Sự quản lý và giám sát tín dụng Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và người đi vay.
Những người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể nhất định gọi là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng. Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan. Rủi ro do xuất từ người đi vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan. Rủi ro khách quan do môi trường kinh doanh là rủi ro mang tính chất hệ thống nên sẽ đề cập ở phần sau.
Ở đây chúng ta sẽ tập trung nói về rủi ro tín dụng có nguyên nhân chủ quan từ ngân hàng và người vay (sự quản lý và giám sát tín dụng). - Rủi ro từ phía ngân hàng Các ngân hàng còn thiếu một chính sách tín dụng nhất quán, chính sách tín dụng ở đây phải bao gồm định hướng chung việc cho vay, chế độ tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn, các quy định về bảo đảm tiền vay, danh mục lựa chọn khách hàng trong từng giai đoạn,…Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng có thể được khái quát cơ bản dưới đây: + Không có đủ thông tin và các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích và đánh giá khách hàng,… dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của phương án xin vay, hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách hàng. + Sự nới lỏng quá trình giám sát trong và sau khi cho vay dẫn đến không phát hiện kịp thời hiện tượng sử dụng vốn vay sai mục đích. + Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay.
+ Chạy theo doanh số mà xem nhẹ chất lượng khoản vay, quá lạc quan và tin tưởng vào sự thành công của phương án kinh doanh của khách hàng. + Quản lý hạn mức tín dụng tối đa thiếu bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, sản phẩm địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, các dự báo trong từng thời kỳ.