CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP, MUA LẠI (M&A) 1. Tổng quan về vốn tự có của ngân hàng 1. Khái niệm, đặc điểm và thành phần của vốn tự có 1. Khái niệm Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại.
Về mặt quản lý, theo các cơ quan quản lý ngân hàng, vốn tự có của ngân hàng được chia làm 2 loại: Vốn tự có cơ bản bao gồm vốn điều lệ (vốn ngân sách cấp, vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi vĩnh viễn), quỹ dự trữ, dự phòng, lợi nhuận không chia và các khoản khác (các tài sản nợ khác theo quy định của ngân hàng nhà nước) Vốn tự có bổ sung được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt động bao gồm vốn cổ phần ưu đãi có thời hạn, tín phiếu vốn, trái phiếu chuyển đổi. Ở Việt Nam, theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, vốn tự có bao gồm phần giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác của tổ chức tín dụng theo quy định của ngân hàng nhà nước. Đặc điểm Vốn tự có là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 8% đến 10%), tuy nhiên nó lại giữ một vai trò rất quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác của ngân hàng đồng thời tạo nên uy tín ban đầu của ngân hàng.
Vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, cụ thể vốn tự có là cơ sở để xác định giới hạn huy động vốn và cho vay của ngân hàng. Nó còn là yếu tố để các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỉ lệ an toàn trong kinh doanh ngân hàng.Trần Huy Hoàng Thực hiện: Nguyễn Ngọc Kim Thoa–Cao học K18 Giải pháp gia tăng quy mô vốn tự có của ngân hàng thông qua hoạt động sáp nhập, mua lại 8 1. Thành phần của vốn tự có Thành phần của vốn tự có bao gồm: Vốn điều lệ là nguồn vốn ban đầu ngân hàng có được khi mới hoạt động, vốn này được ghi vào điều lệ hoạt động của ngân hàng, theo qui định của luật pháp, một ngân hàng để được phép hoạt động thì vốn điều lệ thực tế phải lớn hơn hoặc bằng vốn điều lệ tối thiểu (vốn pháp định). Quỹ dự trữ và dự phòng bao gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và các quỹ dự phòng.
Các quỹ này có chức năng củng cố năng lực bảo vệ của vốn tự có của ngân hàng, bù đắp những thất thoát tín dụng và chống đỡ thiệt hại khi rủi ro phát sinh. Lợi nhuận không chia (lợi nhuận giữ lại) phản ánh phần thu nhập ròng của ngân hàng có được từ hoạt động kinh doanh, nhưng không chia trả lãi cho cổ đông mà được ngân hàng giữ lại để tăng vốn. Thặng dư vốn còn được gọi là phần tăng so với mệnh giá là khoản tiền các cổ đông đã góp khi họ mua cổ phiếu với giá trị lớn hơn mệnh giá của mỗi cổ phiếu. Giấy nợ thứ cấp có khả năng chuyển đổi là khoản nợ vốn dài hạn do các nhà đầu tư bên ngoài đóng góp.
Việc phát hành giấy nợ loại này là một phương pháp tốt để đáp ứng nhu cầu tăng vốn của ngân hàng vì nó có chi phí thấp, lãi của chúng được tính vào chi phí và không làm giảm cổ tức trên mỗi cổ phần. Theo luật định, người sở hữu loại chứng khoán này có quyền hưởng thu nhập từ ngân hàng sau cả những người gửi tiền. Những chứng khoán nợ này có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu thường của ngân hàng. Tín phiếu hoán đổi cổ phiếu là những chứng khoán nợ mà người mua nó sẽ được hoàn trả bằng cổ phiếu của ngân hàng khi đến đợt phát hành.
Thu nhập từ các công ty thành viên và những tổ chức mà ngân hàng nắm cổ phần sở hữu. Mặc dù khoản này chiếm tỷ trọng không lớn nhưng đó là nguồn tài trợ dài hạn cho ngân hàng. Chức năng, các hệ số an toàn và các biện pháp gia tăng vốn tự có 1. Chức năng của vốn tự có HDKH: PGS.Trần Huy Hoàng Thực hiện: Nguyễn Ngọc Kim Thoa–Cao học K18 Giải pháp gia tăng quy mô vốn tự có của ngân hàng thông qua hoạt động sáp nhập, mua lại 9 Chức năng bảo vệ: trong hoạt động kinh doanh có rất nhiều rủi ro; những rủi ro này khi xảy ra sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho ngân hàng, đôi khi có thể dẫn ngân hàng tới chỗ phá sản.
Khi đó vốn tự có sẽ giúp ngân hàng bù đắp được những thiệt hại phát sinh và đảm bảo cho ngân hàng tránh khỏi nguy cơ trên. Trong một số trường hợp ngân hàng mất khả năng chi trả thì vốn tự có sẽ được sử dụng để hoàn trả cho khách hàng. Ngoài ra, do mối quan hệ hỗ tương giữa ngân hàng với khách hàng, vốn tự có còn có chức năng bảo vệ cho khách hàng không bị mất vốn khi gửi tiền tại ngân hàng. Chức năng hoạt động thể hiện ở chỗ vốn tự có có thể được sử dụng để cho vay, hùn vốn hoặc đầu tư chứng khoán nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Tuy nhiên, do vốn tự có chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh nên lợi nhuận mang lại cũng không cao. Vì vậy chức năng hoạt động ở đây cũng chỉ là thứ yếu. Chức năng điều chỉnh: vốn tự có là đối tượng mà các cơ quan quản lý ngân hàng thường hướng vào đó để ban hành những quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng, là tiêu chuẩn để xác định tính an toàn. Vốn tự có còn là căn cứ để xác định và điều chỉnh các giới hạn hoạt động nhằm đảm bảo ngân hàng an toàn trong kinh doanh.
Các ngân hàng trên thế giới trong những năm gần đây đang chịu một áp lực rất lớn từ nhiều phía buộc phải tăng mức vốn để bảo đảm tăng trưởng và giảm rủi ro cho những người gửi tiền. Có nhiều yếu tố gây nên áp lực này, bao gồm cả những yếu tố thuộc về các cơ quan quản lý và các yếu tố thuộc về thị trường tài chính. Lạm phát là một yếu tố quan trọng gây áp lực tăng vốn, bởi vì dù lạm phát nâng cao giá trị tài sản của ngân hàng nhưng lạm phát cũng đồng thời nâng cao giá trị của các khoản nợ và kết quả là trị giá vốn của ngân hàng có chiều hướng giảm sút. Nền kinh tế ngày càng biến động trong những năm gần đây cũng buộc ngân hàng phải tìm cách bổ sung quy mô vốn của mình vì môi trường kinh tế mới này đưa đến những rủi ro cao hơn trong hoạt động ngân hàng.
Những giới hạn về cho vay cũng là một yếu tố thúc đẩy các ngân hàng nâng cao mức vốn để có thể đáp ứng yêu cầu vay vốn HDKH: PGS.Trần Huy Hoàng Thực hiện: Nguyễn Ngọc Kim Thoa–Cao học K18 Giải pháp gia tăng quy mô vốn tự có của ngân hàng thông qua hoạt động sáp nhập, mua lại 10 của những khách hàng lớn. Chi phí hoạt động tăng lên, đặc biệt là chi phí về đất đai, trang thiết bị, chi phí nhân sự tăng cao trong những năm gần dây đã gây khó khăn cho vấn đề tăng thu nhập của ngân hàng – nguồn cơ bản để tăng vốn hàng năm. Cuối cùng, rất nhiều các nhà đầu tư trên thị trường vốn cho rằng hoạt động ngân hàng dường như tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn dưới tác động của quá trình phi quản lý hóa, của sự cạnh tranh gay gắt giữa ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng và dưới tác động của điều kiện kinh tế không ổn định. Giới đầu tư trên thị trường vốn dường như muốn các ngân hàng phải chú ý hơn nữa tới sức mạnh về vốn của họ và tỏ ra không hào hứng với những chứng khoán hay chứng chỉ tiền gửi của những ngân hàng có mức tư bản hóa kém.
Các hệ số an toàn của vốn tự có (i) Hệ số giới hạn huy động vốn: H1 = Vốn tự có/Tổng nguồn vốn huy động. Vốn tự có của ngân hàng bao gồm: vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ. Tổng nguồn vốn huy động gồm: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn, các khoản tiền giữ hộ và đợi thanh toán, tiền gửi của kho bạc nhà nước (nếu có). Hệ số này đưa ra nhằm mục đích giới hạn mức huy động vốn của ngân hàng để tránh tình trạng khi ngân hàng huy động vốn quá nhiều vượt quá mức bảo vệ của vốn tự có làm cho ngân hàng có thể mất khả năng chi trả.
(ii) Hệ số tỷ lệ giữa vốn tự có so với tổng tài sản có: H2 = Vốn tự có/Tổng tài sản có Trong đó, tài sản có của ngân hàng bao gồm tài sản có không sinh lời (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại ngân hàng khác, tài sản cố định, chi phí, các khoản phải thu…) và tài sản có sinh lời (tín dụng, khoản mục đầu tư…) Hệ số này được đưa ra để đánh giá mức độ rủi ro của tổng tài sản có của một ngân hàng. Thông thường, ngân hàng nào gặp phải sự sụt giảm về tài sản (do rủi ro xuất hiện) càng lớn thì lợi nhuận của ngân hàng đó càng giảm thấp. Vì vậy, hệ số HDKH: PGS.Trần Huy Hoàng Thực hiện: Nguyễn Ngọc Kim Thoa–Cao học K18 Giải pháp gia tăng quy mô vốn tự có của ngân hàng thông qua hoạt động sáp nhập, mua lại 11 này cho phép tài sản của ngân hàng sụt giảm ở một mức độ nhất định so với vốn tự có của ngân hàng. Ý nghĩa của hệ số H3: mức độ rủi ro mà các ngân hàng được phép mạo hiểm trong sử dụng vốn cao hay thấp tùy thuộc vào độ lớn vốn tự có của ngân hàng, cụ thể đối với những ngân hàng có vốn tự có lớn thì nó được phép sử dụng vốn với mức độ liều lĩnh lớn với huy vọng đạt được lợi nhuận cao nhất, nhưng rủi ro cũng sẽ cao hơn và ngược lại.
Các biện pháp tăng vốn tự có cho ngân hàng Một là, tăng vốn từ nguồn bên ngoài như phát hành cổ phiếu thường, phát hành cổ phiếu ưu đãi vĩnh viễn, phát hành giấy nợ thứ cấp.