Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NHIÊN CỨU 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến việc thành lập KBTTN và VQG 1.1 KBTTN và công ước đa dạng sinh học Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hoá, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội. Đa dạng sinh học ở nhiều quốc gia trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người. Các KBTTN đóng vai trò chủ chốt trong việc BT đa dạng sinh học và đáp ứng mục tiêu đa dạng của cộng đồng.
Định nghĩa của IUCN khẳng định BT đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của các KBTTN: “ KBTTN là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm được quản ký bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức có hiệu quả khác” (IUCN 1994). Trong vài thập kỷ vừa qua các KBTTN có su hướng tăng cả về số lượng và cả diện tích. Hiện nay trên thế giới có hơn 100.000 KBTTN (Tạp chí KBTTN. Tập 14, số 3, năm 2004) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới.
VQG chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu BT loài và sinh cảnh. Công ước ĐDSH (1992) xác định các KBTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học “tại chỗ”. Tại điều 8 “bảo tồn tại chỗ” của công ước có các mục (a), (b) và (c) quy định rõ các nước tham gia vào công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống KBTTN, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các KBTTN, quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các KBTTN để đảm bảo, bảo tồn và phát triển bền vững. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Hệ thống phân hạng quốc tế KBTTN theo IUCN Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ 19.
VQG Yellowstone là VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. Trong quá trình hình thành và phát triển các KBTTN mỗi nước đều có cách tiếp cận riêng không có các tiêu chuẩn hoặc thuật ngữ chung, điều này gây chở ngại cho việc chia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm về KBTTN trong phạm vi khu vực và toàn cầu. Những nỗ lực đầu tiên nhằm làm rõ những thuật ngữ và phân hạng các KBTTN được ghi nhận vào năm 1933. Hệ thống phân hạng quốc tế KBTTN được IUCN xây dựng và công bố năm 1978 gọi là hệ thống phân hạng 1978 gồm có 10 hạng.
Sau đó 1994 được sửa và công bố hệ thống phân hạng và áp dụng cho tới nay Mục tiêu quản lý các KBTTN rất đa dạng trong đó có các mục tiêu như: Nghiên cứu khoa học, bảo vệ đời sống hoang dã, bảo vệ đa dạng loài và nguồn gen, duy trì các dịch vụ môi trường, du lịch nghỉ ngơi, giáo dục, gìn giữ các bản sắc văn hoá và truyền thống… 1.3 Các loại hình KBTTN khác - Khu dự trữ sinh quyển thế giới Là nơi tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa con người và thiên nhiên, hài hoà giữa nhu cầu phát triển và mục tiêu BT. Các khu dự trữ sinh quyển được xem là nơi lý tưởng để thử nghiệm và áp dụng các cách tiếp cận phát triển bền vững, trong đó có sự hài hoà giữa con người và thiên nhiên, giữa các mục tiêu kinh tế xã hội, môi trường… - Di sản thiên nhiên thế giới Công ước Di sản thiên nhiên thế giới là một trong những công ước quốc tế có sớm nhất. Công ước xác định các địa danh trên thế giới có giá trị văn hoá và tự nhiên “nổi bật” để đưa vào danh sách các di sản thế giới, các khu di sản thiên nhiên thế giới thường trùng với các KBTTN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Khu RAMSR Là công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế có hiệu lực từ năm 1975.
Công ước tập trung BT và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế[11].2 Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của người dân đến TNR Ở Trung Quốc, từ cuối những năm 1970 đến đầu những năm 1980 chính quyền trung ương Trung Quốc đã chuyển giao quyền quản lý nhiều diện tích đất cằn cỗi cho các hộ gia đình nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt củi đun và nhu cầu canh tác đồng thời khuyến khích người dân trồng và bảo vệ rừng trên các vùng đồi trọc, Trung Quốc cũng thực hiện quản lý rừng thông qua hệ thống định hướng thị trường rừng non và rừng trung bình có thể được bán nhờ vậy làm giảm bớt áp lực cho những khu rừng có giá trị cao chưa bị khai thác, từ việc công nhận quyền làm chủ của người dân mà nâng cao ý thức của người dân trong khai thác và bảo vệ rừng, đồng thời khuyến khích họ tham gia các dự án trồng rừng. Do vậy Trung Quốc đã cải thiện tình trạng quản lý rừng, dẫn tới tăng sản lượng cũng như bảo vệ rừng tốt hơn.18] Ở Inđônêxia chương trình cải cách được thực hiện từ năm 1988 trong đó chính quyền đã phải đưa ra các điều luật và chính sách mới trong lĩnh vực lâm nghiệp nhằm xác định lại vai trò của nhà nước và các cơ quan đoàn thể liên quan trong quản lý rừng, trong đó hình thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được thừa nhận một cách hợp pháp như một hình thức quản lý rừng ở địa phương. Quyền của các hộ được khai thác, bán các sản phẩm gỗ và các sản phẩm khác ngoài gỗ từ những cây họ trồng.19] Ở Thái Lan, Đạo luật 1992 Tambon Administration trao quyền quản lý rừng nhiều hơn cho các đơn vị chính quyền địa phương trong quản lý rừng. Đạo luật 1992 và Hiến pháp năm 1997 đều đề cao sự tham gia của người dân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trong quản lý rừng và mở đường cho việc làm sáng tỏ vấn đề sử dụng đất và vai trò của người dân trong quản lý rừng.19] Tại VQG Kakadu (Australia) những người thổ dân chẳng những được sống với VQG một cách hợp pháp mà còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý[9].
Trong chiến lược quốc gia của Philippines về BT đa dạng sinh học chỉ ra rằng: “ Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho BT đa dạng sinh học là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với BT đa dạng sinh học” (Dẫn theo Khuất Thị Lan Anh) [2, tr. Ở Châu á sự tham gia của người dân địa phương tham gia vào công tác BT đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả. Lý do để khuyến khích sự tham gia này là nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các khu BT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý tài nguyên rừng và kinh tế xã hội. Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khác nào “bắt cá khỏi nước” và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác tài nguyên rừng mà không có người bảo vệ.
Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này. Năm 1986 trong tác phẩm “Lâm nghiệp xã hội và hành động của cộng đồng” các tác giả Dorji, D.thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng, làm hàng dào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc. Chúng cũng cung cấp một phần lớn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 những nhu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước trên vùng dốc. Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999).
Tại khu BT Hoàng gia Chitwan ở Nêpal, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan quản lý rừng vùng đệm phục vụ cho du lịch, lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên rừng là khoảng 30% - 50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng. Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở đồng quản lý tài nguyên rừng phục vụ du lịch ở vùng đệm. [19] Qua các nghiên cứu trên đều khẳng định muốn quản lý TNR phụ thuộc rất lớn vào sự tham gia của người dân nhất là những người dân địa phương, do cuộc sống của những người dân sống gần rừng phụ thuộc rất nhiều vào rừng, do đó để quản lý được TNR phải đảm bảo sinh kế của họ, phải làm cho họ thấy được tầm quan trọng của TNR và tạo điều kiện cho họ sống được nhờ rừng, từ các hoạt động canh tác rừng, bảo vệ rừng…tránh được hiện tượng khai thác rừng quá mức ảnh hưởng đến TNR. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 1.
Lịch sử và hệ thống chính sách liên quan đến rừng đặc dụng ở Việt Nam So với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực thì lịch sử hình thành các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam là tương đối sớm. Việc đầu tư quản lý bảo vệ và phát triển các khu rừng đặc dụng đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Việc xây dựng triển khai, thực thi các chính sách pháp luật của nhà nước ta được coi trọng, nhưng rừng vẫn bị xâm hại, một trong những nguyên nhân là đời sống của người dân sống trong và ven rừng vẫn còn rất khó khăn vì thế dẫn đến nhiều vụ vi phạm và vi phạm nghiêm trọng vào rừng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Tháng 7/1962 Quyết định số 72/TTg của Thủ Tướng chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng 25.000 ha sau này trở thành VQG đầu tiên của Việt Nam và công bố năm 1988.
Sau đó một loạt các VQG được thành lập và công bố như: VQG Cát Bà (1991), VQG Ba Bể (1992), VQG Côn Đảo (1993), VQG Chư Mom Rây (1995), VQG Tam Đảo (1996), VQG Xuân Thuỷ (2002)…[2.