Tổng quan nghiên cứu

Rừng tự nhiên tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cân bằng sinh thái, bảo vệ nguồn nước và cung cấp sinh kế cho hàng triệu người dân bản địa. Tuy nhiên, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc của Lào đã ghi nhận sự suy giảm mạnh mẽ từ mức 70% vào năm 1975 xuống còn khoảng 47% (tương đương 11 triệu ha) vào năm 2012. Nằm ở vùng Đông Bắc tỉnh Attapeu và Đông Nam tỉnh Sê Kong, Vườn Quốc gia Đông Ăm Pham có tổng diện tích quy hoạch 200.000 ha, trong đó địa phận tỉnh Attapeu chiếm 175.936 ha (tương đương 87,97%) và tỉnh Sê Kong chiếm 24.064 ha (tương đương 12,03%). Khu vực này sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa đa dạng với hơn 84 loài thú (15 loài quý hiếm) và hơn 280 loài chim (19 loài quý hiếm).

Mặc dù có giá trị đa dạng sinh học cao, tài nguyên rừng tại đây đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng do áp lực khai thác từ 11 làng bản sinh sống bên trong và 15 làng bản vùng đệm với hơn 6.084 nhân khẩu thuộc 9 nhóm dân tộc thiểu số. Tập quán du canh du cư, phát nương làm rẫy, săn bắt động vật hoang dã và thu hái lâm sản không bền vững đã tạo ra xung đột gay gắt giữa bảo tồn và sinh kế. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng, xác định mức độ và vai trò tham gia của cộng đồng địa phương tại 4 làng đại diện thuộc Cụm bản Sôm Boun (huyện Phu Vông, tỉnh Attapeu), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng bền vững theo mô hình đồng quản lý trong giai đoạn 2017–2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần cung cấp cơ sở khoa học hỗ trợ chính quyền địa phương thực thi hiệu quả Luật Lâm nghiệp Lào và Chỉ thị số 15/CP-TTg về đóng cửa rừng tự nhiên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết bảo tồn và phát triển tích hợp (ICDP) theo khung lý thuyết của Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999). Quan điểm này khẳng định tính bền vững của các khu bảo tồn thiên nhiên phụ thuộc vào việc dung hòa mối quan hệ giữa bảo vệ sinh thái và nhu cầu dân sinh thông qua 3 tiếp cận trọng tâm: tiếp cận giải pháp thay thế sinh kế, tiếp cận phát triển kinh tế vùng đệm và tiếp cận tham gia quy hoạch quản lý tài nguyên.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) chuẩn hóa từ năm 1982 đến năm 2000. Theo đó, cộng đồng dân cư địa phương được xác lập vai trò như một chủ rừng thực thụ, tham gia bình đẳng vào các chu trình lập kế hoạch, bảo vệ, khoanh nuôi và chia sẻ lợi ích lâm nghiệp. Để đo lường chiều sâu của sự can thiệp xã hội, luận văn áp dụng thang đo 7 cấp độ tham gia của Hosley (1996), bao gồm: tham gia có tính chất vận động, tham gia bị động, tham gia tư vấn cung cấp thông tin, tham gia vì lợi ích vật chất hỗ trợ, tham gia theo chức năng, tham gia hỗ trợ tương hỗ và tự tổ chức huy động nguồn lực. Các khái niệm nền tảng về Vườn Quốc gia theo tiêu chuẩn của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN 1994), Luật Lâm nghiệp Lào 2007 và cơ chế phân vùng chức năng vùng lõi – vùng đệm được sử dụng làm hệ quy chiếu xuyên suốt.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp trong khung thời gian từ năm 2015 đến năm 2017:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tổng cỡ mẫu khảo sát thực địa là 253 mẫu. Trong đó, áp dụng công thức xác định cỡ mẫu của Robert và Morgan (1970) với độ tin cậy 95% và sai số chấp nhận được 0,05 để chọn ngẫu nhiên đơn giản (thông qua hình thức bốc thăm) 197 hộ gia đình tại 4 làng trọng điểm thuộc Cụm bản Sôm Boun (Làng Phu Cưa: 31 hộ; Làng Phu Nhang: 20 hộ; Làng Nặm Suôn: 24 hộ; Làng Sôm Boun: 122 hộ từ tổng thể 405 hộ gia đình với 2.099 nhân khẩu). Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện 28 phiếu phỏng vấn đại diện chính quyền thôn bản và 28 phiếu phỏng vấn chuyên sâu cán bộ quản lý từ 7 cơ quan chức năng cấp tỉnh và huyện.
  • Công cụ thu thập dữ liệu: Sử dụng phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn (RRA), Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), thảo luận nhóm tập trung, quan sát trực tiếp hiện trường và phỏng vấn bán cấu trúc.
  • Phương pháp và lý do lựa chọn phân tích dữ liệu: Toàn bộ số liệu định lượng được tổng hợp, kiểm định và phân tích thống kê mô tả thông qua phần mềm SPSS 13.0 và Microsoft Excel. Việc kết hợp phân tích định lượng với công cụ ma trận SWOT định tính giúp lượng hóa chính xác mức độ tham gia của các nhóm hộ, đồng thời nhận diện sâu sắc các yếu tố tương tác đa chiều giữa chính sách, tập quán văn hóa và nguồn vốn sinh kế tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa tại 4 làng nghiên cứu thuộc Cụm bản Sôm Boun, huyện Phu Vông đã chỉ ra những đặc điểm kinh tế - xã hội và lâm nghiệp then chốt:

  • Cơ cấu nhân khẩu và mức độ phụ thuộc sinh kế: Tổng số dân cư tại 4 làng là 405 hộ với 2.099 người. Thành phần dân tộc ghi nhận sự áp đảo của người Brâu chiếm 80%, dân tộc Sa đang chiếm 10%, Kayong chiếm 5%, Lào Lùm chiếm 3% và các dân tộc khác chiếm 2%. Đời sống kinh tế của trên 85% số hộ dân phụ thuộc trực tiếp vào việc khai thác tài nguyên rừng thông qua việc phát nương làm rẫy, khai thác lâm sản ngoài gỗ (mây, tre, nấm, cây thuốc) và săn bắt động vật để đáp ứng nhu cầu lương thực hàng ngày.
  • Đánh giá mức độ tham gia theo thang đo 7 bậc: Dữ liệu cho thấy sự tham gia của người dân vào công tác quản lý rừng tại Vườn Quốc gia Đông Ăm Pham đang ở mức rất thấp. Hơn 72% phản hồi của người dân tập trung ở cấp độ 2 (tham gia bị động - chỉ nghe phổ biến khi có yêu cầu) và cấp độ 3 (tham gia cung cấp thông tin khi cán bộ đến khảo sát). Tỷ lệ người dân đạt đến cấp độ 5 (tham gia theo chức năng như tuần tra rừng có hỗ trợ) chỉ đạt khoảng 18%, trong khi tỷ lệ tham gia chủ động ở cấp độ 6 và 7 (tự quản lý và ra quyết định) chỉ chiếm dưới 5%.
  • Thực trạng vi phạm và áp lực tài nguyên: Khảo sát hồ sơ quản lý ghi nhận các vụ vi phạm chặt phá rừng làm nương rẫy, khai thác trộm gỗ quý và săn bắt động vật có xu hướng diễn biến phức tạp. Địa hình đồi núi dốc từ 15 đến 30 độ khiến đất đai dễ bị rửa trôi, xói mòn mạnh khi lớp phủ thực vật bị tàn phá.

Thảo luận kết quả

Thực trạng mức độ tham gia thấp của người dân bắt nguồn từ 3 nguyên nhân cốt lõi: thiếu cơ chế hưởng lợi minh bạch, nhận thức pháp luật hạn chế do rào cản ngôn ngữ của đồng bào dân tộc Brâu, và tình trạng thiếu hụt đất sản xuất nông nghiệp cố định. Cơ chế quản lý hiện hành của Ban Quản lý Vườn Quốc gia vẫn mang nặng tính áp đặt hành chính từ trên xuống, lực lượng kiểm lâm chỉ có 5 cán bộ chuyên trách phụ trách hàng chục nghìn hecta, dẫn đến khoảng trống quản lý lớn trên thực địa.

Dữ liệu điều tra được minh họa sinh động thông qua các bảng ma trận thống kê nhân khẩu, biểu đồ hình tròn thể hiện 80% cơ cấu tộc người Brâu, và biểu đồ cột so sánh mức độ tham gia giữa 4 làng nghiên cứu. Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Phouhiphi (tỉnh Oudomxay, Lào) và vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát (Việt Nam), khẳng định rằng nếu không tạo ra nguồn sinh kế thay thế để giải quyết tỷ lệ nghèo đói trên 70% tại vùng đệm, các mệnh lệnh hành chính thuần túy sẽ không thể ngăn chặn triệt để hành vi xâm lấn rừng đặc dụng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng bền vững tại Vườn Quốc gia Đông Ăm Pham, 4 nhóm giải pháp chiến lược cần được triển khai đồng bộ:

  • Tăng cường tuyên truyền và giáo dục môi trường: Biên soạn tài liệu và tổ chức tuyên truyền Luật Lâm nghiệp, Lệnh số 15/CP-TTg bằng song ngữ (tiếng Lào và tiếng đồng bào Brâu), phấn đấu đạt mục tiêu 100% hộ gia đình tại 4 làng ký cam kết bảo vệ rừng trong thời gian 12 tháng, do Ban Quản lý Vườn Quốc gia phối hợp với Phòng Nông Lâm nghiệp huyện Phu Vông thực hiện.
  • Hỗ trợ chuyển đổi mô hình sinh kế bền vững: Xây dựng mô hình nông lâm kết hợp, hỗ trợ kỹ thuật thâm canh lúa nước, chăn nuôi gia súc tập trung và phát triển cây dược liệu dưới tán rừng, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ phụ thuộc vào khai thác rừng tự nhiên từ mức 85% hiện tại xuống dưới 40% trong lộ trình 24 tháng, do Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Attapeu và Ủy ban chính quyền huyện Phu Vông chủ trì.
  • Thể chế hóa cơ chế giao đất giao rừng và hương ước thôn bản: Hoàn thành việc ranh giới hóa cắm mốc, bàn giao khoán bảo vệ từ 100 đến 500 ha rừng cộng đồng cho mỗi thôn bản tự quản lý gắn với xây dựng hương ước bảo vệ rừng, thực hiện trong vòng 18 tháng dưới sự điều phối của Chi cục Quản lý Tài nguyên Rừng tỉnh Attapeu.
  • Phát triển du lịch sinh thái gắn với kêu gọi vốn đầu tư: Quy hoạch các tour du lịch sinh thái khám phá cảnh quan thiên nhiên độc đáo quanh Hồ Nong Phạ (diện tích 1 km2 ở độ cao 1.500m) gắn với bản sắc văn hóa dân tộc Brâu, mục tiêu tạo nguồn thu dịch vụ môi trường rừng tăng 15–20%/năm trong 36 tháng, huy động nguồn lực từ các tổ chức bảo tồn quốc tế như WWF, IUCN và Dự án BCC.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng kiểm lâm: Cán bộ Sở Nông Lâm nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Attapeu, Ban Quản lý các Vườn Quốc gia tại Lào và các quốc gia Tiểu vùng sông Mekong. Sử dụng luận văn làm cẩm nang hướng dẫn xây dựng quy chế phối hợp tuần tra và thiết lập cơ chế đồng quản lý rừng với cộng đồng dân cư bản địa.
  • Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị tài trợ quốc tế: Các chuyên gia thuộc Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Dự án Hành lang Đa dạng Sinh học (BCC). Khai thác hệ thống số liệu định lượng 253 mẫu khảo sát để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế và bảo tồn gen sinh vật đặc hữu.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên lâm nghiệp: Nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm nghiệp xã hội và Phát triển nông thôn. Ứng dụng khung phương pháp luận kết hợp RRA, PRA, công thức tính mẫu Robert & Morgan (1970) và phần mềm SPSS vào các đề tài nghiên cứu thực địa vùng cao.
  • Chính quyền địa phương cấp huyện và xã vùng đệm: Lãnh đạo Ủy ban chính quyền huyện Phu Vông và các huyện giáp ranh biên giới Việt – Lào – Campuchia. Tham khảo các mô hình can thiệp sinh kế để lồng ghép vào chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo cho 405 hộ dân vùng biên giới.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao sự tham gia của người dân lại mang tính quyết định đối với Vườn Quốc gia Đông Ăm Pham?
    Với diện tích rộng lớn 200.000 ha và địa hình chia cắt phức tạp, lực lượng kiểm lâm biên chế mỏng chỉ 5 cán bộ không thể kiểm soát toàn diện. Hơn 6.084 người dân bản địa sinh sống lâu đời gắn bó mật thiết với rừng chính là lực lượng giám sát tại chỗ hiệu quả nhất nếu được trao quyền và chia sẻ lợi ích thỏa đáng.

  • Phương pháp chọn 253 mẫu khảo sát có đảm bảo tính đại diện khoa học không?
    Nghiên cứu áp dụng chuẩn mực công thức Robert và Morgan (1970) trên tổng thể 405 hộ dân của 4 làng điển hình, đạt độ tin cậy 95% với sai số 0,05. Việc bổ sung 56 phiếu phỏng vấn cán bộ chuyên môn từ 7 cơ quan và lãnh đạo thôn bản giúp dữ liệu đảm bảo tính khách quan và cân bằng đa chiều.

  • Thang đo Hosley (1996) phản ánh điều gì về thực trạng quản lý rừng tại đây?
    Thang đo chỉ ra rằng hơn 72% người dân địa phương mới chỉ dừng lại ở mức tham gia thụ động hoặc cung cấp thông tin đơn thuần. Người dân hoàn toàn thiếu quyền lực trong khâu lập quy hoạch, ra quyết định và hưởng lợi trực tiếp từ các dịch vụ của Vườn Quốc gia.

  • Tác động của Lệnh số 15/CP-TTg năm 2016 đến sinh kế người dân vùng nghiên cứu như thế nào?
    Lệnh số 15/CP-TTg nghiêm cấm khai thác gỗ tự nhiên và đóng cửa rừng toàn quốc nhằm hạn chế suy thoái rừng. Quy định này bảo vệ hệ sinh thái nhưng đồng thời tạo áp lực chuyển đổi sinh kế rất lớn cho hơn 80% hộ nghèo dân tộc thiểu số vốn quen dựa vào khai thác lâm sản truyền thống.

  • Hệ sinh thái Vườn Quốc gia Đông Ăm Pham có điểm đặc thù nào cần ưu tiên bảo tồn?
    Khu vực sở hữu đỉnh núi Ngọc Pàn cao trên 2.000m, hệ thống sông Sê Kaman, Sê Kong và thắng cảnh Hồ Nong Phạ rộng 1 km2 trên độ cao 1.500m. Nơi đây lưu giữ nguồn gen quý của 84 loài thú và 280 loài chim đặc hữu thuộc vùng sinh thái Trung Trường Sơn.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng quản lý tài nguyên rừng tại Vườn Quốc gia Đông Ăm Pham với quy mô 200.000 ha thuộc tỉnh Attapeu và tỉnh Sê Kong.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác từ 253 mẫu điều tra tại Cụm bản Sôm Boun, phản ánh chân thực mức độ phụ thuộc sinh kế của 80% đồng bào dân tộc Brâu vào tài nguyên rừng.
  • Lượng hóa rõ nét sự hạn chế trong mức độ tham gia của cộng đồng theo thang đo Hosley (hơn 72% ở mức độ thụ động) và sự thiếu hụt cơ chế đồng quản lý.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm tuyên truyền song ngữ, chuyển đổi sinh kế nông lâm kết hợp, giao khoán 100–500 ha rừng cộng đồng và phát triển du lịch sinh thái Hồ Nong Phạ.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn hỗ trợ Chính phủ Lào và chính quyền địa phương hiện thực hóa mục tiêu quản lý rừng bền vững theo tinh thần Lệnh số 15/CP-TTg trong giai đoạn tiếp theo.

Các cơ quan quản lý lâm nghiệp, tổ chức bảo tồn và nhà khoa học quan tâm có thể tiếp tục mở rộng nghiên cứu ứng dụng mô hình đồng quản lý này nhằm bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá tại khu vực Tam giác phát triển Lào – Việt Nam – Campuchia.