Đặt vấn đề nghiên cứu Đầu tư là hoạt động chủ yếu quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh. Hoạt động này được thực hiện tập trung thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư. Có thể nói hoạt động đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa chiến lược, có tác động lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư do đó đòi hỏi các quyết định đầu tư phải được tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng. Đầu tư trong nước có hiệu quả sẽ xây dựng được một nền kinh tế ổn định có tốc độ tăng trưởng nhanh, có cơ sở hạ tầng hiện đại và cơ sở pháp lý lành mạnh, tạo ra tiền đề để tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả đầu tư nước ngoài. Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu quyết định đầu tư thay đổi như thế nào với các ràng buộc tài chính của các doanh nghiệp (Hubbard, 1998; Lensink và các cộng sự, 2001), và đó cũng là một vấn đề tranh luận quan trọng vẫn tồn tại trong Almeida & Campello, 2007. Modigliani & Miller (1958) cho rằng quyết định tài trợ độc lập với quyết định đầu tư trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo.
Trong thực tế, thị trường vốn không hoàn hảo. Phân tích mẫu các doanh nghiệp Hoa Kỳ, Fazzari và các cộng sự (1988, 2000) đo lường ràng buộc tài chính của một doanh nghiệp bằng sự nhạy cảm của đầu tư đến dòng tiền nội bộ của mình. Họ lý giải rằng trong một thị trường vốn cạnh tranh không hoàn hảo, chi phí cho nguồn vốn nội bộ thấp hơn chi phí cho nguồn vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó những doanh nghiệp ràng buộc tài chính khó tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài, và chi phí sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài trở nên rất mắc, vì thế, đầu tư ở các doanh nghiệp này phụ thuộc khá lớn vào nguồn vốn nội bộ. Các doanh nghiệp có nhiều ràng buộc tài chính sẽ cắt giảm cổ tức chi trả để gia tăng nguồn vốn bên trong, nhờ đó có thêm nguồn tài trợ cho đầu tư.
Theo nghiên cứu của Maria Socorro Gochoco-Bautista và Noli R.Sotocinal và Jianxin Wang (2014) nghiên cứu các cơ chế mà qua đó tài chính ảnh hưởng đến các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 khoản đầu tư của doanh nghiệp và tích lũy vốn của năm nền kinh tế châu Á, đặc biệt là 5 quốc gia ASEAN, cụ thể là, Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan, và sử dụng dữ liệu cấp doanh nghiệp từ năm 2005 đến năm 2011. Một phát hiện chính của nghiên cứu là việc tách các tác động về điều kiện tài chính từ những phát triển tài chính. Tiếp theo là các điều kiện tài chính ảnh hưởng đến của các doanh nghiệp cơ hội phát triển và nhu cầu đầu tư, trong khi phát triển tài chính chủ yếu ảnh hưởng đến tài chính bên ngoài của các doanh nghiệp hạn chế. Điều kiện tài chính và phát triển tài chính có tác động khác nhau lên các doanh nghiệp nhỏ và lớn.
Vậy đối với nền kinh tế Việt Nam với những nét tương đồng trong đặc trưng kinh tế, điều kiện thị trường tài chính thì những phát hiện này có phù hợp hay không? Vì vậy, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu các chỉ số điều kiện tài chính, phát triển tài chính, ràng buộc tài chính đến quyết định đầu tƣ của các doanh nghiệp ở thị trƣờng châu Á”. Mục tiêu nghiên cứu chung, câu hỏi nghiên cứu 1. Mục tiêu nghiên cứu chung Mặc dù có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ tăng trưởng – tài chính, thông qua đó ảnh hưởng đến các khoản đầu tư của doanh nghiệp với các nhân tố như chỉ số điều kiện tài chính (bao gồm lãi suất và chênh lệch tỷ giá, giá tài sản), Chỉ số phát triển tài chính (tín dụng ngân hàng tổng hợp đến khu vực tư nhân chia cho GDP) được nghiên cứu nhiều ở các thị trưởng phát triển như Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ. Nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở các thị trường mới nổi như châu Á, đặc biệt các nước Asean.
Hệ thống tài chính ở nhiều nền kinh tế ở khu vực Asean còn kém phát triển, thường là với một sự phụ thuộc lớn vào ngân hàng tài chính và có thể ảnh hưởng đáng kể của chính phủ hoặc kiểm soát. Xuất phát từ yêu cầu của đề tài, luận văn này sẽ tìm hiểu về chỉ số điều kiện tài chính, phát triển tài chính, ràng buộc tài chính đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp ở thị trường châu Á. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Câu hỏi nghiên cứu (i) Chỉ số điều kiện tài chính có ảnh hưởng đến cơ hội tăng trưởng và nhu cầu đầu tư các doanh nghiệp? (ii) Phát triển tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp? (iii) Ràng buộc tài chính tác động như thế nào đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp? (iv) Có sự khác biệt giữa tác động của ràng buộc tài chính đến quyết định đầu tư đối với dòng tiền của các doanh nghiệp nhỏ và các doanh ngiệp lớn, doanh nghiệp ít ràng buộc tài chính và các doanh nghiệp có nhiều ràng buộc tài chính không? 1.
Đối tƣợng nghiên cứu Chỉ số điều kiện tài chính, phát triển tài chính và ràng buộc tài chính tại các nước: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thailand, Việt Nam. Quyết định đầu tư của các doanh nghiệp tại thị trường Asean (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thailand, Việt Nam). Phạm vi nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu 1. Phạm vi nghiên cứu Bài nghiên cứu này sử dụng mẫu dữ liệu của 1.701 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại các nước: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thailand, Việt Nam.
Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu được lấy từ các sàn giao dịch chứng khoán, được thu thập từ các bảng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, cụ thể được thu thập từ các website: www. Từ đó, các dữ liệu thô được tổng hợp và tính toán để làm cơ sở dữ liệu cho việc thực hiện hồi quy mô hình. Phƣơng pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy GMM. Phương pháp GMM cho dữ liệu bảng động sử dụng các độ trễ thích hợp của các biến được công cụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Ngoài ra nó còn khai thác dữ liệu gộp của bảng và không ràng buộc độ dài chuỗi dữ liệu thời gian của các đơn vị bảng trong bảng dữ liệu. Điều này cho phép sử dụng một cấu trúc trễ thích hợp để thai khác đặc tính năng động của dữ liệu. Tính hợp lý của các công cụ được sủ dụng trong mô hình thông qua phương pháp hồi quy GMM được đánh giá thông qua các thống kê Sargan Test (J – Test) và Arellano-Bond (AR) (1991). Cấu trúc bài nghiên cứu Để phù hợp với mục tiên nghiên cứu, bố cục bài nghiên cứu bao gồm 5 chương, cụ thề Chƣơng 1: Giới thiệu Trong chương này trình bày tổng quan các nội dung của bài nghiên cứu và các vấn đề nghiên cứu, những nội dung cơ bản của bài nghiên cứu cũng như lý do dẫn đến tác giả tiến hành thực hiện nghiên cứu này.
Chƣơng 2: Khung lý thuyết và tổng quan các kết quả nghiên cứu trƣớc đây. Trong chương này tác giả trình bày những lý thuyết nền tảng và tổng quan các nghiên cứu trước đây về chỉ số điều kiện tài chính, phát triển tài chính, ràng buộc tài chính và quyết định đầu tư của các doanh nghiệp. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương này tác giả trình bày những lý thuyết kinh tế lượng cơ bản, mô tả biến và mô hình được sử dụng trong bài nghiên cứu.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trên bộ dữ liệu tác giả thu thập. Chƣơng 5: Kết luận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương này thảo luận kết quả nghiên cứu, đưa ra những kết luận được rút ra từ bàu nghiên cứu, Đưa ra nhựng hạn chế của bài nghiên cứu và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết nghiên cứu Từ các bằng chứng thực nghiệm cho thấy quyết định đầu tư là một trong các quyết định tài chính trọng yếu của các doanh nghiệp khi hoạch định chính sách tài chính (Ross, 2005). Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều những lý giải cho sự thay đổi trong quyết định đầu tư của doanh nghiệp.Một trong những lý giải dựa trên lý thuyết bất cân xứng thông tin và lý thuyết đại diện.
Lý thuyết bất cân xứng thông tin cho rằng bản thân các giám đốc doanh nghiệp sẽ hạn chế nguồn tài trợ bên ngoài nhằm tránh việc phát hành các cổ phiếu bị đánh giá thấp. Lý thuyết đại diện cho rằng các giám đốc có xu hướng đầu tư quá mức để đạt được những lợi ích cá nhân, mà những mục tiêu này ở một chừng mực nào đó sẽ bị giới hạn bởi các thị trường vốn bên ngoài. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory) George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz (1970) lần đầu tiên đưa ra cơ sở cho lý thuyết thông tin bất cân xứng. Đến năm 2001 thì lý thuyết này đã khẳng định được vị trí trong nền kinh tế học hiện đại khi các nhà nghiên cứu nói trên cùng vinh dự được trao giải thưởng Nobel Kinh tế cho công trình nghiên cứu “phân tích các thị trường với tình trạng thông tin bất cân xứng”.
Hope và Thomas (2008) cho rằng sự không thống nhất lợi ích giữa các cổ đông và thiếu sự giám sát hành động của nhà quản lý có thể dẫn đến các nhà quản lý cố gắng tối đa hóa lợi ích cá nhân của họ bằng việc đầu tư không có lợi cho cổ đông. Tương tự, Almeida and Campello (2004) cũng cho rằng việc đầu tư dưới mức hoặc trên mức kết quả từ thông tin không cân đối giữa công ty và thị trường vốn.; Renneboog, Luc (2005) nghiên cứu chính sách đầu tư phụ thuộc vào dòng tiền chủ yếu từ các vấn đề của nội bộ. Đầu tiên, ông cũng ghi nhận một sự đầu tư tương quan dương với độ nhạy dòng tiền và cho thấy rằng độ nhạy dòng tiền này phụ thuộc vào quyền sở hữu nội bộ doanh nghiệp, đối với các công ty trong đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.