0201 nghiên cứu tình trạng sức khỏe răng miệng và các yếu tố liên quan của trẻ em 12 và 15 tuổi tại các trường trung học cơ sở thị xã bình minh tỉnh vĩnh l

Nghiên cứu tình trạng sức khỏe răng miệng và các yếu tố liên quan của trẻ em 12-15 tuổi tại trường trung học cơ sở Bình Minh, Vĩnh Long.

Chuyên ngành

Quản Lý Y Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Chuyên Khoa Cấp II

2014

108
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình trạng bệnh sâu răng

1.2. Tình trạng bệnh nha chu

1.3. Tình trạng nhiễm fluor răng

1.4. Tình trạng bất thường răng mặt

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Phương pháp chọn mẫu

2.7. Nội dung nghiên cứu

2.8. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.9. Phương pháp kiểm soát sai số

2.10. Phương pháp phân tích số liệu

2.11. Y đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

3.2. Tình trạng bệnh răng miệng của trẻ 12 và 15 tuổi

3.3. Tỉ lệ hiện mắc sâu răng

3.4. Trung bình SMTR (Phân tích bằng kiểm định t)

3.5. Tỷ lệ hiện mắc bệnh nha chu

3.6. Trung bình sextant nha chu

3.7. Tình trạng vệ sinh răng miệng (OHI-S)

3.8. Tình trạng nhiễm Fluor răng

3.9. Tình trạng bất thường răng

3.10. Các yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng

3.11. Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng và nha chu ở trẻ 12 và 15 tuổi

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Về đặc điểm mẫu nghiên cứu

4.2. Tình trạng bệnh răng miệng ở trẻ 12 và 15 tuổi

4.3. Các yếu tố liên quan bệnh sâu răng và nha chu

4.4. Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng và nha chu ở trẻ 12 và 15 tuổi

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: Bảng câu hỏi phỏng vấn học sinh

PHỤ LỤC 2: Phiếu điều tra sức khỏe răng miệng đơn giản

PHỤ LỤC 3: Danh sách học sinh được phỏng vấn và khám răng miệng

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu sức khỏe răng miệng trẻ em 12 15 tuổi tại Bình Minh

Nghiên cứu sức khỏe răng miệng trẻ em 12-15 tuổi tại Bình Minh, Vĩnh Long là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Tình trạng sức khỏe răng miệng của trẻ em ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của các em. Theo nghiên cứu, bệnh sâu răng và bệnh nha chu đang gia tăng, đặc biệt là ở lứa tuổi này. Việc tìm hiểu tình trạng sức khỏe răng miệng giúp xác định nhu cầu chăm sóc và điều trị kịp thời.

1.1. Tình trạng sức khỏe răng miệng của trẻ em 12 15 tuổi

Trẻ em trong độ tuổi 12-15 thường gặp nhiều vấn đề về sức khỏe răng miệng. Theo thống kê, tỷ lệ sâu răng và bệnh nha chu ở lứa tuổi này cao hơn so với các độ tuổi khác. Việc chăm sóc răng miệng chưa được chú trọng, dẫn đến tình trạng bệnh lý gia tăng.

1.2. Tầm quan trọng của sức khỏe răng miệng

Sức khỏe răng miệng không chỉ ảnh hưởng đến khả năng ăn uống mà còn tác động đến sự tự tin và tâm lý của trẻ. Việc duy trì sức khỏe răng miệng tốt giúp trẻ phát triển toàn diện và hạn chế các bệnh lý về răng miệng trong tương lai.

II. Vấn đề và thách thức trong chăm sóc sức khỏe răng miệng trẻ em

Chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ em 12-15 tuổi tại Bình Minh đang đối mặt với nhiều thách thức. Thiếu kiến thức về vệ sinh răng miệng, thói quen ăn uống không lành mạnh và thiếu sự quan tâm từ gia đình là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Cần có những biện pháp can thiệp kịp thời để cải thiện tình hình.

2.1. Thiếu kiến thức về vệ sinh răng miệng

Nhiều trẻ em chưa được trang bị kiến thức đầy đủ về cách chăm sóc răng miệng. Việc không biết cách chải răng đúng cách và tầm quan trọng của việc khám răng định kỳ dẫn đến tình trạng sâu răng và bệnh nha chu gia tăng.

2.2. Thói quen ăn uống không lành mạnh

Thói quen ăn uống của trẻ em hiện nay thường chứa nhiều đường và tinh bột, là nguyên nhân chính gây sâu răng. Việc tiêu thụ đồ uống có ga và thức ăn nhanh cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh răng miệng.

III. Phương pháp nghiên cứu sức khỏe răng miệng trẻ em tại Bình Minh

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các phương pháp khảo sát và phân tích số liệu. Đối tượng nghiên cứu là trẻ em 12-15 tuổi đang học tại các trường trung học cơ sở tại Bình Minh. Các chỉ số sức khỏe răng miệng được thu thập và phân tích để đưa ra kết luận chính xác.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang, với đối tượng là học sinh từ 12 đến 15 tuổi. Số liệu được thu thập từ các trường học và thông qua các bảng hỏi.

3.2. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Số liệu được thu thập thông qua khảo sát trực tiếp và phỏng vấn. Sau đó, số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê để phân tích tình trạng sức khỏe răng miệng của trẻ em.

IV. Kết quả nghiên cứu sức khỏe răng miệng trẻ em tại Bình Minh

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sâu răng và bệnh nha chu ở trẻ em 12-15 tuổi tại Bình Minh cao hơn mức trung bình quốc gia. Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng và nha chu cũng được xác định rõ ràng, cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình can thiệp kịp thời.

4.1. Tỷ lệ mắc bệnh sâu răng và nha chu

Tỷ lệ mắc bệnh sâu răng ở trẻ em 12-15 tuổi tại Bình Minh đạt mức cao, với nhiều trường hợp cần điều trị. Bệnh nha chu cũng xuất hiện phổ biến, ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng của trẻ.

4.2. Nhu cầu điều trị và chăm sóc sức khỏe răng miệng

Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng và nha chu ở trẻ em là rất lớn. Cần có các chương trình giáo dục và chăm sóc sức khỏe răng miệng để đáp ứng nhu cầu này.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho sức khỏe răng miệng trẻ em

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy sức khỏe răng miệng của trẻ em 12-15 tuổi tại Bình Minh cần được cải thiện. Cần có các chương trình giáo dục và can thiệp kịp thời để nâng cao nhận thức và cải thiện tình trạng sức khỏe răng miệng cho trẻ em trong tương lai.

5.1. Đề xuất các giải pháp cải thiện sức khỏe răng miệng

Cần triển khai các chương trình giáo dục về vệ sinh răng miệng cho trẻ em và gia đình. Đồng thời, cần tăng cường các hoạt động khám răng miệng định kỳ tại các trường học.

5.2. Tương lai của nghiên cứu sức khỏe răng miệng trẻ em

Nghiên cứu sức khỏe răng miệng trẻ em cần được tiếp tục để theo dõi tình trạng và xu hướng bệnh lý. Các chương trình can thiệp cần được điều chỉnh và cải tiến để đạt hiệu quả cao nhất.

15/07/2025
0201 nghiên cứu tình trạng sức khỏe răng miệng và các yếu tố liên quan của trẻ em 12 và 15 tuổi tại các trường trung học cơ sở thị xã bình minh tỉnh vĩnh l

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tình trạng bệnh sâu răng 1. Bệnh sâu răng 1. Các khái niệm cơ bản Sâu răng : là một bệnh nhiễm khuẩn của răng, nó đưa đến sự hòa tan tại chỗ và phá hủy những mô Calci của răng [13]. Chữa răng: Còn gọi là trám răng, phục hồi lại những mất chất của răng (do sâu hay do nguyên nhân khác) [13].

Nội nha: Điều trị tủy các răng bị bệnh tủy không hồi phục [13]. Mất răng: Răng bị nhổ do sâu, chấn thương hay chỉnh hình [13]. Chỉ số sâu mất trám: Là tổng số răng bị sâu, răng đã được trám hay điều trị tủy, răng mất do sâu trên một cá thể [21]. Số trung bình SMTR: Là trung bình cộng số răng sâu, mất, trám trên một nhóm cá thể hay cả cộng đồng [21].

Bệnh căn sâu răng Sang thương sâu răng chỉ xảy ra dưới một đám vi khuẩn có khả năng tạo đủ lượng axit tại chỗ để làm mất khoáng cấu trúc răng. Khối gelatin vi khuẩn dính vào bề mặt răng được gọi là mảng bám. Mảng bám vi khuẩn biến dưỡng carbohydrate tinh chế cho năng lượng và axit hữu cơ như một sản phẩm phụ [13]. Sản phẩm axit có thể là nguyên nhân của sang thương sâu răng bởi sự hòa tan những tinh thể cấu trúc răng.

Sang thương sâu răng tiến triển từng đợt lúc mạnh lúc yếu tùy theo mức độ pH trên mặt răng với sự thay đổi biến 4 dưỡng của mảng bám. Sâu răng hoạt động mạnh ở thời kỳ hoạt động biến dưỡng của vi khuẩn cao và độ pH tại chỗ giảm dưới 5,5 [13]. Các ion Ca2+ và PO43- trong nước bọt giữ nhiệm vụ làm nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho tiến trình tái khoáng hóa. Sâu răng là 1 bệnh do nhiều nguyên nhân và được mô tả đơn giản qua sơ đồ Keyes: là kết quả tác động hỗ tương giữa 3 yếu tố chính : Ký chủ ( răng & nước bọt ), vi sinh vật miệng (vi khuẩn ), carbohydrate.

Ngoài ra yếu tố thời gian là điều kiện để sâu răng phát triển [13],[15]. Keyes cải tiến Vi khuẩn (Chủ yếu là Streptococcus mutans), Cabohydrate (Chủ yếu là Sucrose, Glucose, Fructose), răng nhạy cảm (Răng thiểu sản men, không được khoáng hóa tốt): 3 yếu tố cần thiết gây sâu răng. Thời gian: Điều kiện để sâu răng phát triển. Nếu thời gian có đường và vi khuẩn lưu lại trong miệng càng lâu, lượng acid được tạo ra càng nhiều, mô răng bị phá hủy càng nhiều [15].

5 Quan điểm hiện nay - Mảng bám vi khuẩn bệnh lý Như đã nói ở trên, mảng bám là một chất mềm, trong suốt và bám chặt vào mặt răng. Đúng nghĩa thì ta phải nói là mảng bám vi khuẩn vì nó bao gồm trong đó vi khuẩn và chất thứ phẩm. Trong hàng trăm loại vi khuẩn sống trong môi trường miệng thì chỉ một số sinh vật đặc biệt nhất là streptococci mới có thể bám vào các bề mặt trong miệng như niêm mạc và cấu trúc răng nhờ vào các thụ thể (Receptor). Sự bám vào răng và bám vào nhau giúp cho vi khuẩn tụ lại trên mặt răng.

Khi các vi khuẩn đầu tiên đó đã bám dính được vào răng, chúng sinh sôi nảy nở và dần tạo ra một màng bọc trên mặt răng. Các vi sinh vật khác cũng tới bám vào màng bọc này tạo thành mảng bám vi khuẩn. Vi khuẩn Streptococus mutans, sống bằng sucrose để tập hợp thành polysaccharide ngoại bào là thủ phạm chính gây sâu răng, kế đó là Lactobacilli. Mảng bám vi khuẩn là nguyên nhân chính của sự lên men carbohydrates thức ăn, đồ uống để trở thành ion acid trên bề mặt răng [15].

- Các chất dễ gây sâu răng: Cabohydrate Là chất nền cơ bản cho dinh dưỡng và vi khuẩn. Polysaccharide ( Tinh bột ): Ngũ cốc, rau quả. Các loại rau quả, ngũ cốc chưa chế biến ít gây sâu răng. Các loại tinh bột đã qua chế biến rất dễ biến đổi thành acid hữu cơ→ dễ sâu răng.

Đường trong trái cây cũng gây sâu răng nhưng ít vì ăn số lượng không đáng kể. 6 Các acid mạnh thường có sẵn trong các nguồn từ ngoài như carbohydrates ở nước ngọt, các loại nước tăng lực, nước chanh vắt và chất dịch hồi lưu dạ dày hay ợ chua. Thường xuyên hoặc kéo dài sự hiện diện của các dịch trên có thể đưa đến sự mất khoáng nhanh chóng và có thể từ sâu răng nhẹ trở thành sâu răng lan rộng. Cụ thể trường hợp ở trẻ nhỏ bú bình sữa, nước trái cây trong lúc ngủ [15].

- Những yếu tố thức ăn bảo vệ Một số thực phẩm tạo thành những yếu tố chống lại sự mất khoáng. Mảng bám sẽ giảm mức độ tấn công bề mặt răng với sự hiện diện của mỡ. Sản phẩm sữa, đặc biệt là phó mát và có thể là loại hạt mầm nằm trong các loại thực phẩm này. Những loại thức ăn đòi hỏi sự nghiền, nhai các loại rau có xơ có thể coi như là bảo vệ, như kẹo cao su làm gia tăng lưu lượng nước bọt cho nên được coi như có khả năng chất đệm.

Chính yếu tố này có thể làm pH mảng bám trở nên trung tính hoàn toàn một cách nhanh chóng [16]. - Yếu tố ký chủ Răng : Mô cứng của răng nhạy cảm, dễ bị acid hòa tan. Ngoài ra ở những trũng rãnh quá sâu, bề mặt men không láng, răng mọc chen chúc làm tăng lưu giữ mảng bám → dễ sâu răng. Nước bọt: Nước bọt giữ một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ răng chống lại sự tấn công của acid.

Nước bọt có chức năng pha loãng acide trong miệng, chức năng kháng thể chống vi khuẩn. [15] - Cơ chế bảo vệ của nước bọt [15]: Sự đóng màng từ nước bọt là một hàng rào bảo vệ rất tốt chống lại sự thách thức của acid. Nó tác động như một rào: Cản sự xâm nhập của ion acid vào răng. Ngăn sự di chuyển của các chất apatite hòa tan từ răng ra.

7 Ngăn cản sự khoáng hóa của apatite thành đá răng khi mức ion Ca2+ và PO43- ở thể bão hòa cao trong nước bọt. Hệ thống chất đệm bicarbonate rất có hiệu quả trong sự kích thích lưu lượng nước bọt ở mức độ cao trong việc chống lại acid hữu cơ cũng như acid ăn mòn trên bề mặt răng. Tác dụng chải rửa: lưu lượng nước bọt và sự làm sạch miệng ảnh hưởng trong việc lấy đi các mảnh vụn thức ăn và các vi sinh vật. Cần ghi nhận lưu lượng nước bọt ở mức độ cao cũng có thể lấy đi một phần lượng Fluor đặt trên răng, cho nên ta cần tăng số lượng đòi hỏi ở mức tối đa cho việc bảo vệ răng.

Ion Fluor chứa trong nước bọt ở mức thấp (0,03ppm hay 1,6 mmol/l trung bình) nhưng nó vẫn còn giữ được công việc bảo vệ và điều chỉnh sửa chữa sự vôi hóa của răng. Fluor giữ vai trò lớn rõ rệt trong tiến trình mất khoáng và tái khoáng, đặc biệt là nó thúc đẩy quá trình tái khoáng hóa xảy ra. Trong môi trường acid, ion Fluor phản ứng mạnh với các ion tự do Ca2+ và ion PO43- tạo thành tinh thể Fluoroapatite Ca10(PO4)6(OH.F)2, trong đó Fluor thay thế cho một vài ion hydroxyl. Fluorapatite ít tan hơn hydroxyapatite nguyên chất bới các cụm thứ cấp của nó chắc chắn hơn.

Ngoài ra Fluor còn ngăn cản sự biến dưỡng của vi khuẩn. - Thời gian Sâu răng chỉ phát triển khi phản ứng sinh acid kéo dài và lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian. Ăn nhiều lần các chất carbohydrate lên men thì dễ sâu răng hơn tổng lượng carbohydrate đó trong một lần. - Diễn tiến sâu răng[16] Sâu men: Men răng bị tổn thương (mất khoáng), có thể có lổ sâu hay không có; không đau nhức; thường không tự phát hiện được.

8 Sâu ngà: Lỗ sâu tiến triển đến ngà; đau khi có kích thích (Cơ học, nhiệt độ…) và hết đau khi tác nhân kích thích chấm dứt. Viêm tủy: Tổn thương lan đến tủy răng; đau nhức dữ dội, nhất là khi nằm nghỉ ngơi (về đêm); đau tự phát hay khi có kích thích và đau kéo dài khi tác nhân kích không còn. Tủy chết: Tủy hoại tử, có mùi hôi đặc trưng; bệnh nhân không đau. Biến chứng: Nhiễm trùng chóp chân răng (abces quanh chóp, u hạt hay nang chân răng); Viêm xương; viêm cốt tủy xương; viêm mô tế bào; viêm xoang hàm; viêm tắc tĩnh mạch xoang hang.

Hướng điều trị [16] Các nghiên cứu về sinh học đã khám phá ra rằng sự phát triển của các triệu chứng sâu răng bao gồm một loạt rất nhiều các thay đổi, từ sự hòa tan của các tinh thể trong các cấu trúc siêu hiển vi, đến các lỗ sâu thấy được bằng mắt thường. Vì vậy, giai đoạn được xem là khởi phát trước đây, thực tế, chỉ là biểu hiện của một sự phát triển chậm, nhưng không thấy được bằng mắt thường của cáctổn thương. Việc chăm sóc sức khỏe răng miệng hiện đại đòi hỏi một kiến thức sâu về tầm quan trọng tương đối của các yếu tố môi trường trong xoang miệng quyết định sự phát triển và tiến triển bệnh sâu răng. Một nha sĩ đương thời phải chọn lựa được biện pháp thích hợp nhất để kiểm soát sự tiến triển của bệnh cho từng cá thể, với mục tiêu tối hậu là loại bỏ việc đơn thuần chỉ điều trị triệu chứng.

Ở từng giai đoạn tiến triển của bệnh, có chỉ định điều trị khác nhau Sâu men: Trám phục hồi bằng vật liệu Xi-măng, Composite hoặc Amangam; kết hợp với các biện pháp làm sạch khoang miệng như lấy cao răng, súc miệng bằng dung dịch diệt khuẩn. 9 Sâu ngà: Thực hiện điều trị như sâu men nhưng chú ý sâu ngà sâu cận tủy thì phải có lớp trám bảo vệ tủy bằng vật liệu CalciHydroxit. Viêm tủy, tủy hoại tử, áp-xe quanh chóp: Chỉ định điều trị tùy theo mức độ mất chất của răng. Có thể điều trị tủy kết hợp tái tạo bằng mão răng hoặc có thể phải nhổ răng và sau đó làm phục hình [13],[16].

Các chỉ số đánh giá tình trạng sâu răng Bệnh sâu răng là một quá trình động diễn ra trong mảng bám vi khuẩn dính trên bề mặt răng, đưa đến mất cân bằng giữa mô răng với chất dịch chung quanh, và theo thời gian, hậu quả là sự mất khoáng mô răng. Để đánh giá tình trạng sâu răng trong cộng đồng, người ta dựa vào hai tiêu chuẩn: Tỷ lệ người bị sâu răng và chỉ số răng sâu mất trám. Tỷ lệ sâu răng: Nói lên tỷ lệ hiện mắc sâu răng trong cộng đồng. Năm 1981, Tổ chức Sức khỏe thế giới (WHO) đã dùng tỷ lệ này làm tiêu chuẩn đánh giá sâu răng [78].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ