CHƯƠNG 1 TONG QUAN LÝ THUYET 1.1 NHIEM SAC THE VI KHUAN Nhiễm sắc thé (NST) tế bào vi khuẩn da số là một sợi đôi DNA có hình vòng tròn, hình thành từ hai sợi đơn DNA khép kín. Mỗi sợi đơn DNA là một polynucleotide được cầu tạo bởi các mắt xích nucleotide adenine (A), cytosine (C), thymine (T) va guanine (G). Cac nucleotide này được nối với nhau thông qua các liên kết phosphodiester, trong đó một nhóm phosphate được nối với hai nhóm đường (deoxyribose) của hai nucleotide. Ở một đầu của polynucleotide có nhóm phosphate gan vào nguyên tử carbon số 5 và dau kia có nhóm hydroxyl gan vào nguyên tử carbon số 3 của đường deoxyribose.
Các đầu nay lần lượt được gọi là đầu 5’ và dau 3’. Hai sợi đơn polynueleotide của nhiễm sắc thể kết hợp với nhau nhờ các liên kết hydrogen theo mô hình kết cặp nucleotide của Watson va Crick [1]. Mỗi sợi đơn hoàn chỉnh của nhiễm sắc thể chứa các trình tự mang thông tin mã hóa cho protein, các RNA ribosome (rRNA), các RNA vận chuyển (tRNA) và các trình tự không ma hóa. Ở hau hết các vi khuẩn, phân tử DNA nhiễm sac thé chỉ có một điểm khởi dau và một điểm kết thúc sao chép DNA.
Rất nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng nucleotide skew dé nhận biết vị trí điểm khởi đầu sao chép ở một số nhiễm sắc thể vi khuẩn, nhưng sự phân bố của các oligomer trong phân tử DNA nhiễm sắc thể thì không được công bố nhiều. Khi kích thước oligomer càng lớn, nghiên cứu sẽ cảng trở nên phức tap vì số lượng oligomer tăng lên. Có lẽ vì thé mà chỉ có sự phân bố của vài oligomer trong phân tử DNA nhiễm sắc thể đã được nghiên cứu mà thôi. Như đã biết, ở mỗi phía của điểm khởi đầu sao chép, hai sợi DNA b6 sung tương ứng được sử dụng làm khuôn để sao chép mạch trước (leading strand) và mạch sau (lagging trand) bởi hai cau trúc khác nhau của bộ máy sao chép.
Cac nucleotide cũng như một số các oligomer được tìm thấy là phân bố không cân đối ở hai phía của điểm khởi đầu sao chép của các phân tử DNA nhiễm sac thé. 17 12 TINH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC Ở các NST vi khuẩn, các đoạn trình tự cục bộ (tức các đoạn mang thông tin mã hóa cho protein, các rRNA, các tRNA và các trình tự không mã hóa) mang tính bat đối xứng (asymmetric), tức là thành phan các nucleotide trong soi đơn của các đoạn này không giống nhau [2, 3, 4]. Tính bất đối xứng của các đoạn nảy có liên quan đến quá trình sao chép và phiên mã DNA trong tế bao [5, 6]. Mặt khác, các nucleotide trong các đoạn năm rất xa nhau trong NST có mối liên hệ với nhau [7, 8, 9].
Tuy nhiên, trình tự hoàn chỉnh của NST thì đối xứng (symmetric) [10, 11], tức là số lượng A gần bằng số lượng T, và số lượng C gan bang số lượng G; đồng thời, số lượng mỗi oligonucleotide (hay oligomer, tức dimer, trimer, tetramer, .) trong sợi đơn nhiễm sắc thé hoàn chỉnh tinh theo chiều 5’ — 3” và trong sợi bố sung cũng theo chiều 5’ > 3’ cũng gần bang nhau. Điều nay cũng có nghĩa là số lượng mỗi oligomer, vi dụ như ATC, trong một sợi đơn hoàn chỉnh cua NST theo chiều 5° — 3” gân bằng với số lượng của oligomer bồ sung đảo ngược (BSĐN) tương ứng của nó, chăng hạn GAT là trimer BSĐÐN của ATC, trong sợi đơn hoàn chỉnh này theo chiều 5° — 3°. Tính đối xứng này được cho là do đảo đoạn NST tạo ra [12, 13], làm hình thành nên kiểu phân bố mang tính phố biến của các trimer trong các nhiễm sắc thé [14]. Tuy nhiên, các trimer được phân bố như thé nao dé các NST trở đối xứng thì chưa được biết đến.
Trên thực tế, sự phân bố của các nucleotide trong nhiễm sắc thé có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành công nghệ biến đổi DNA. Phá vỡ sự phân bố tự nhiên của các nucleotide trong NST bang cách đảo đoạn bên trong mỗi replichore có thé làm phá vỡ sự phân bố của nucleoid trong tế bào, làm chậm tốc độ phân chia tế bào [15. Tuy nhiên, đảo đoạn xảy ra quanh vùng tiếp giáp của hai replichore của vi khuẩn với các điểm cuối của đoạn DNA bị đảo có khoảng cách như nhau đối với điểm khởi đầu sao chép lại là một hiện tượng phổ biến trong tự nhiên [17, 18]. Như vậy, đảo đoạn [12] chỉ có thé là cơ chế nhăm duy trì đặc tính đối xứng vốn có của các phân tử DNA NST chứ không phải dé tạo ra đặc tính nay.
Trong khi đó, các nghiên cứu in vivo khác lại tiết lộ rằng sự đối xứng của DNA NST qua trục nối điểm khởi đầu và điểm kết thúc sao chép có liên quan đến tốc độ sao chép và sự ôn định của NST [19, 20, 21]. Thay 18 đối vị trí điểm khởi đầu sao chép ở vi khuẩn bang cách đảo đoạn ving DNA chứa điểm nay làm giảm tốc độ sao chép DNA của tế bào [19, 20]. Chèn toàn bộ phân tử DNA NST của một vi khuẩn vào một điểm trên NST của một vi khuẩn khác là điều không thể. Itaya và cộng sự đã thất bại khi đưa phân tử DNA NST vi khuẩn Synechocystis sp.
PCC6803 vào NST vi khuẩn B. subtilis bang cách chèn toàn bộ DNA NST của Synechocystis vào một điểm trên phân tử DNA NST của Bacillus. Thí nghiệm chỉ thành công khi phân tử DNA NST tạo thành đối xứng qua các điểm khởi đầu và kết thúc sao chép của phân tử DNA NST vi khuẩn B. Mặt khác, việc tạo NST vi khuẩn nhân tạo chỉ thành công khi vi tri tương đối của các đoạn nucleotide tổng hợp mã hóa cho các RNA thông tin (mRNA) trong NST nhân tạo được duy trì như trong NST vi khuẩn tự nhiên [22].
Tốc độ sao chép và tinh 6n định của NST vì thé là những yếu tố cần được duy trì sau khi trình tự DNA NST bị thay đổi. Trên NST vi khuẩn Bacillus cereus ATCC 10987, các trình tự profein sense và antisense chiếm 83,3% [23]. Trinh tự sense va antisense là các trình tự nucleotide mang thông tin mã hóa cho các mRNA. Trinh tự sense có các nucleotide năm theo thứ tự y hệt như trong trình tự mRNA, còn trình tự antisense là trình tự bé sung cua trinh tu mRNA.
Số lần xuất hiện của các trimer và của các trimer BSDN tương ứng trong toàn bộ các trình tự sense va antisense trong mỗi NST là tương đương nhau [23]. Cac trimer trong các trình tự sense của một replichore và các trimer BSDN tương ứng của chúng trong các trình tự antisense của replichore còn lại cũng được tìm thay là phân bố với mật độ tương đương nhau, với mật độ phân bố của một trimer bất kỳ trong các trình tự sense và antisense được định nghĩa là số lần xuất hiện trung bình của trimer đó trên mỗi kilobase pair các trình tự này [23]. Liệu sự phân bố của các trimer và các trimer BSDN tương ứng ở vi khuẩn B. cereus có mang tính qui luật, tức cũng được tìm thấy ở các NST vi khuẩn khác? Tế bào vi khuẩn Burkholderia lata 383 có ba NST hình vòng tròn khép kín, có trình tự và kích thước hoàn toàn khác nhau.
Giống như ở vi khuẩn B. số lần xuất hiện của các trimer và của các trimer BSĐN tương ứng trong toàn bộ các trình tự sense va antisense của mỗi NST cũng tương đương nhau [24]. Dé tài này khảo 19 sát sự phân bô của các trimer trong các trình tự sense va antisense của các NST khác nhau của vi khuân B. lata 383 nhăm tìm hiéu xem liệu mật độ phân bô của các trimer và các trimer BSDN tương ứng ở các NST khác nhau của vi khuân này có như nhau hay không, và có giống như ở vi khuẩn B.
cereus ATCC [23] hay không.3 TINH CAP THIẾT CUA DE TÀI Theo nhu trinh bay trong Muc 1.2 thi cong viéc biến đối DNA can được định hướng và thiết kế kỹ càng trước khi được thực hiện dé đạt hiệu quả biến đổi cao. Cũng theo như trình bày trong Mục 1.2, nếu tất cả các NST vi khuẩn đều có chung đặc tính đối xứng [10, 11] và sự phân bố của các nucleotide trong NST có mối quan hệ mật thiết với tốc độ sao chép, sự phan bố nucleoid và tốc độ phân chia tế bào [15, 16, 19, 20] thì các trimer phân bố như thế nào trong các trình tự sense và antisense để góp phân tạo nên tính đối xứng, trong khi các trình tự NST hoàn toàn khác nhau, là một van dé đáng được tìm hiểu. Tìm ra được qui luật phân bố của các nucleotide trong nhiễm sắc thể nhằm giúp việc thực hiện thay đổi các trình tự DNA trong NST theo hướng điều tiết các quá trình sinh học của tế bao theo ý muốn là điều có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Đề tài này khảo sát sự phân bố của các trimer trong các trình tự sense và antisense của các NST vi khuẩn B.
lata 383, nhằm tìm hiểu xem liệu phân bố trimer trong các trình tự sense va antisense của các NST khác nhau của vi khuẩn này có như đã tìm thay ở NST vi khuẩn B. Nếu sự phân bố của các trimer trong các trình tự sense va antisense của các NST vi khuẩn mang tính qui luật, việc tạo thành công các chủng vi khuẩn cho sản phẩm trao đôi chất mong muốn là hoàn toàn có thê nhờ công đoạn thiệt kê bộ gene in silico.4 LUẬN DIEM MỚI CUA DE TÀI Su phan bố của các trimer trong các trình tự sense và antisense chỉ mới được nghiên cứu khá kỹ trên NST vi khuẩn B. Sự phân bố của các trimer trong các trình tự sense và antisense của các NST B. lata chỉ mới được nghiên 20 cứu ở bước dau [24], cho thay cũng như ở vi khuẩn B.
cereus, số lần xuất hiện của các trimer và các trimer BSDN tương ứng trong toàn bộ các trình tự sense va antisense của mỗi NST là tương đương. Đề tài này khảo sát sự phân bố của các trimer trong các trình tự sense va antisense của các replichore của từng NST của vi khuẩn B. Kết quả của luận văn này cho kết quả mang tính so sánh về cách phân bố của các nucleotide trong ba NST khác nhau của cùng một vi khuẩn, và cũng để so sánh với sự phân bố của các nucleotide trong NST vi khuẩn đã nghiên cứu [23]. Các kết quả nay góp phan cung cấp thông tin cần thiết trong việc chuẩn bị (in silico) cho các nghiên cứu bién đổi hoặc tạo mới DNA NST.