CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CÔNG TY TNHH GAMELOFT - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 1. LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG (THỎA MÃN) CỦA NHÂN VIÊN 1. Khái niệm về sự hài lòng của nhân viên Hiện nay, có khá nhiều các khái niệm về mức độ thỏa mãn của nhân viên. Thỏa mãn của nhân viên nói chung và nhân viên văn phòng nói riêng có thể đo lường ở mức độ thõa mãn chung trong công việc, cũng có thể đo lường thõa mãn với từng thành phần của công việc.
Mức độ thỏa mãn chung trong công việc - Theo mô hình về sự kỳ vọng của Porter- Lawer thì sự thỏa mãn (hay sự hài lòng) là thái độ hình thành từ sự chênh lệch giữa những phần thưởng mà một nhân viên nhận được và những phần thưởng mà anh ta tin tưởng là đáng nhận được. Con người thường có xu hướng so sánh những phần thưởng của họ nhận được với phần thưởng mà những người khác nhận được. Nếu một người nhận thấy đối xử không công bằng thì họ sẽ không thỏa mãn. - Theo Spector (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc và các khía cạnh công việc của họ như thế nào.
- Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa sự hài lòng trong công việc như phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc của nhân viên. - Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự hài lòng công việc được định nghĩa chung là mực độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao Luan van 8 động thì độ hài lòng công việc càng cao. - Kreitner và Kinicki (2007), sự hài lòng công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình.
Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình. - Wroom (1964) định nghĩa rằng thỏa mãn của nhân viên là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức - Weiss (1967) định nghĩa rằng thỏa mãn trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động - Locke (1976) thì cho rằng thỏa mãn trong công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của họ. - Staples và Higgins (1998), sự thỏa mãn nhân viên nhìn chung được cảm nhận thông qua phạm vi của công việc và những thái độ tích cực đối với môi trường làm việc. - Kusku (2003) cho rằng sự thỏa mãn của nhân viên phản ánh mức độ mà những nhu cầu và mong muốn của cá nhân được đáp ứng và cảm nhận được sự đánh giá bởi những nhân viên khác.
Mức độ thỏa mãn chung với các thành phần trong công việc - Theo Smith, Kendal và Hulin (1969), mức độ thỏa mãn với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc (bản chất công việc; cơ hội đào tạo và thăng tiến; lãnh đạo; đồng nghiệp; tiền lương) của họ. - Theo quan điểm của Buitendach và Witte (2005) cho rằng sự hài lòng công việc liên quan đến nhận thức và đánh giá cảu mỗi cá nhân về công việc, và nhận thức này lần lượt ảnh hưởng bởi hoàn cảnh của họ, bao gồm cả nhu cầu, giá trị và kỳ vọng. Do đó, mỗi cá nhân đánh giá công việc của họ trên cơ sở các yếu tố mà họ coi là quan trọng đối với họ (Sempane, Rieger & Roodt, 2002). Luan van 9 Nhìn chung, thỏa mãn nhân viên là sự đánh giá của người lao động về các vấn đề liên quan đến thực hiện công việc của họ.
Việc đánh giá này tốt hay xấu tùy theo sự cảm nhận của người lao động (cả chủ quan lẫn khách quan). Như vậy, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của nhân viên nhưng chúng ta có thể rút ra được rằng sự hài lòng của nhân viên là sự đánh giá của người lao động về các vấn đề liên quan đến thực hiện công việc của họ. Họ sẽ có phản ứng tích cực đối với công việc của mình. Lý thuyết về sự thõa mãn của nhân viên Nghiên cứu sự thỏa mãn của nhân viên thường được các nhà nghiên cứu gắn liền với các lý thuyết về động viên và sự thỏa mãn công việc.
Ngay từ những năm 1940, những nghiên cứu về hành vi con người đã cho thấy con người cần được động viên bằng những nhu cầu khác nhau trong công việc và trong cuộc sống riêng. Nhận biết và thỏa mãn điều này giúp nhà quản trị có thể khai thác được tối đa năng lực của người khác. Sau đây là tóm tắt một số lý thuyết đáng lưu ý: a. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Thuyết cấp bậc nhu cầu của A.Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp đến cao về tầm quan trọng.
Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc. Khi một nhu cầu bậc thấp nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở bậc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp. Nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh học và nhu cầu an toàn.
Nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, tôn trọng, và tự thể hiện. Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi đó các nhu cầu cấp cao lại được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con người. Luan van 10 Tự thể hiện Nhu cầu tự trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 1.1: Tháp nhu cầu cấp bậc Maslow Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một ẩn ý quan trọng đối với hoạt động quản trị đó là muốn lãnh đạo nhân viên thì điều quan trọng là bạn phải hiểu người lao động của bạn đang ở cấp độ nhu cầu nào. Từ sự hiểu biết đó cho phép bạn đưa ra các chính sách phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu của người lao động.
Con người cá nhân hay con người tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu. Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Đồng thời việc nhu cầu được thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người. Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người.
Nói cách khác, người lãnh đạo hoặc quản lý có thể điều khiển được hành vi của nhân viên bằng cách dùng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của họ làm cho họ hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc được giao, phấn chấn hơn khi thực hiện nhiệm vụ và tận tụy hơn với nhiệm vụ đảm nhận. Luan van 11 Bảng 1.1: Bảng các nhân tố tạo sự thỏa mãn cho người lao động theo từng loại nhu cầu của lý thuyết Maslow Loại nhu cầu Các nhân tố tạo sự thỏa mãn cho người lao động Trả lương tốt và công bằng, cung cấp bữa ăn trưa, ăn Nhu cầu cơ bản giữa giờ, giữa ca miễn phí; đảm bảo các phúc lợi…… Bảo đảm điều kiện làm việc thuận lợi, bảo đảm công việc Nhu cầu an toàn được duy trì ổn định và chăm sóc sức khoẻ tốt cho nhân viên (an toàn tính mạng, thu nhập, công việc …. Người lao động cần được tạo điều kiện làm việc theo nhóm, được tạo cơ hội để mở rộng giao lưu giữa các bộ phận, khuyến khích mọi người cùng tham gia ý kiến Nhu cầu xã hội phục vụ sự phát triển doanh nghiệp hoặc tổ chức, các hoạt động vui chơi, giải trí nhân các dịp kỷ niệm hoặc các kỳ nghỉ khác Người lao động cần được tôn trọng về nhân cách, phẩm chất, tôn trọng các giá trị của con người. Do đó, cần có cơ chế và chính sách khen ngợi, tôn vinh sự thành công Nhu cầu được và phổ biến kết quả thành đạt của cá nhân một cách rộng tôn trọng rãi.
Đồng thời, người lao động cũng cần được cung cấp kịp thời thông tin phản hồi, đề bạt nhân sự vào những vị trí công việc mới có mức độ và phạm vi ảnh hưởng lớn hơn. Nhà quản lý cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân, người lao động cần được đào tạo và phát Nhu cầu tự hoàn triển, cần được khuyến khích tham gia vào quá trình cải thiện tiến trong doanh nghiệp hoặc tổ chức và được tạo điều kiện để họ tự phát triển nghề nghiệp. Luan van 12 Do đó, muốn lãnh đạo nhân viên thì điều quan trọng là bạn phải hiểu người lao động của bạn đang ở cấp độ nhu cầu nào. Nhận biết cấp độ nhu cầu và đưa ra các giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu của người lao động đồng thời bảo đảm đạt đến các mục tiêu tổ chức.
Thuyết nhu cầu ERG của R. Alderfer (1969) Clayton Alderfer- giáo sư đại học Yale đã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của Maslow và đưa ra kết luận của mình. Ông cho rằng: hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu- cũng giống như các nhà nghiên cứu khác- song ông cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. Nhu cầu tồn tại Nhu cầu quan hệ Nhu cầu phát triển Thỏa mãn => Thăng tiến Thất vọng <= Quay ngược Hình 1.2: Mô hình ERG của Alderfer (1) Nhu cầu tồn tại (Existence needs) bao gồm những nhu cầu tồn tại cơ bản của con người như nhu cầu sinh lý và an toàn, nhóm nhu cầu này có nội dung giống như nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn của Maslow.
Các Công ty có thể đáp ứng nhu cầu này thông qua việc trả lương, phúc lợi, môi trường làm việc an toàn và bảo đảm việc làm. (2) Nhu cầu quan hệ (Relatedness needs) là những đòi hỏi về quan hệ và tương tác qua lại giữa các cá nhân.