Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời để lại những hệ lụy môi trường nghiêm trọng. Tỉnh Thái Nguyên có 85 điểm mỏ khoáng sản được cấp phép với diện tích khai thác hơn 3.191 ha. Quá trình bóc xúc tầng phủ và thải bỏ đất đá (như tại mỏ than Khánh Hòa ~3 triệu m³/năm, mỏ sắt Trại Cau ~2 triệu m³/năm, mỏ than Phấn Mễ >1 triệu m³/năm) làm suy thoái tài nguyên đất, phá vỡ cấu trúc thổ nhưỡng và gây ô nhiễm kim loại nặng. Đất sau khai khoáng thường có độ chua cao, nghèo dinh dưỡng và chứa các độc tố kim loại vượt ngưỡng quy chuẩn, gây rủi ro suy giảm năng suất cây trồng và tích lũy chất độc vào chuỗi thức ăn.

Song song với áp lực suy thoái đất, ngành nông nghiệp Việt Nam hàng năm phát sinh khoảng 84,5 triệu tấn chất thải trồng trọt, trong đó có hơn 40 triệu tấn rơm rạ và 8 triệu tấn trấu. Tập quán đốt rơm rạ trực tiếp trên đồng ruộng tại các vùng nông thôn không chỉ lãng phí nguồn sinh khối lớn mà còn phát thải khí nhà kính và gây ô nhiễm không khí. Việc chuyển hóa rơm rạ thành than sinh học (biochar) thông qua nhiệt phân yếm khí tạo ra vật liệu xốp, giàu cacbon cố định, có diện tích bề mặt lớn, tính kiềm và dung tích trao đổi cation cao. Ứng dụng than sinh học được xác định là giải pháp kỹ thuật có tiềm năng kép: vừa xử lý triệt để phụ phẩm nông nghiệp, vừa cố định kim loại nặng và cải tạo lý hóa tính cho đất sau khai thác khoáng sản.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu thành phần, tính chất của than sinh học sản xuất từ rơm rạ.
  2. Nghiên cứu ứng dụng than sinh học sản xuất từ rơm rạ để xử lý Chì (Pb) di động trong đất ô nhiễm do khai thác khoáng sản.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mẫu đất thu thập tại khu vực bãi thải mỏ thiếc xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và than sinh học sản xuất từ nguồn nguyên liệu rơm rạ.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực trạng môi trường đất tại mỏ thiếc Hà Thượng và thực nghiệm xử lý hàm lượng Pb di động trong đất bãi thải bằng than sinh học rơm rạ ở các tỷ lệ phối trộn khác nhau trong điều kiện phòng thí nghiệm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuẩn hóa về môi trường, ô nhiễm môi trường đất và độc tính của kim loại nặng theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2014 và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Kim loại nặng được xác định là các nguyên tố có tỷ trọng lớn hơn 4 hoặc 5 g/cm³ (như Pb, Cd, Cu, Zn, Co, Ni) và các á kim (As, Se), có khả năng tồn tại lâu dài, tích tụ sinh học và gây độc cho sinh thái. Cơ chế cố định kim loại nặng của than sinh học trong đất bao gồm: tăng độ pH làm kết tủa ion kim loại dưới dạng hydroxit/cacbonat khó tan, trao đổi cation kiềm (Ca²⁺, Mg²⁺, K⁺), tạo phức bề mặt với các nhóm chức hữu cơ và hấp phụ vật lý trong cấu trúc mao quản xốp.

Hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ đối chiếu:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014;
  • Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12;
  • Nghị định số 15/2012/NĐ-CP và Nghị định số 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ;
  • Thông tư 38/2015/TT-BTNMT về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản;
  • QCVN 03:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất từ UBND xã Hà Thượng; các tài liệu đánh giá môi trường mỏ thiếc Đại Từ và nghiên cứu về than sinh học của các công trình đã công bố.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm thực hiện tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên từ ngày 17/8/2015 đến 30/12/2015. Đất bãi thải được phơi khô trong điều kiện phòng, giã mịn và rây qua cỡ hạt 1 mm. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 3 công thức phối trộn, mỗi công thức nhắc lại 3 lần (tổng số 9 chai thí nghiệm, mỗi chai chứa 1 kg đất):
    • Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): 100% đất bãi thải (0% than sinh học).
    • Công thức 2 (CT2): Đất bãi thải phối trộn 5% than sinh học rơm rạ theo khối lượng.
    • Công thức 3 (CT3): Đất bãi thải phối trộn 10% than sinh học rơm rạ theo khối lượng.
    • Định kỳ tưới nước 2 lần/tuần để duy trì độ ẩm ổn định. Mẫu đất được lấy phân tích tại 2 thời điểm: sau 4 tuần và sau 8 tuần.
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
    • Đo độ pH đất: Đo bằng máy đo pH meter tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường.
    • Hàm lượng Pb di động: Phân tích tại Viện Môi trường Nông nghiệp theo phương pháp TCCS 08:2012/TTPT.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm SAS và Microsoft Excel, kiểm định sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức xác suất 5% (LSD₀.₀₅) và tính hệ số biến động (CV%).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ hai áp lực môi trường thực tế: tình trạng suy thoái, ô nhiễm kim loại nặng tại các khu vực mỏ khoáng sản ở Thái Nguyên và sự lãng phí, ô nhiễm do đốt bỏ phế phụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ). Xác lập mục tiêu kép về mặt khoa học và thực tiễn, đồng thời đưa ra các yêu cầu khắt khe về độ chính xác và tính khách quan trong bố trí thí nghiệm chậu/chai trong phòng thí nghiệm.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tổng hợp cơ sở lý thuyết về môi trường đất, kim loại nặng và cơ chế hấp phụ của biochar. Phân tích hiện trạng khai thác khoáng sản trên thế giới (Anh, Thụy Điển, Australia, Malaysia...) và tại Việt Nam. Điểm qua các phương pháp xử lý đất ô nhiễm kim loại nặng hiện nay (xử lý thực vật, nhiệt phi hấp thụ, rửa đất bằng tác nhân tạo phức EDTA/axit, xử lý điện động học, kết tủa hóa học và phân hủy sinh học). Tổng hợp tiềm năng sinh khối tại Việt Nam với hơn 60 triệu tấn phế phụ phẩm/năm, trong đó rơm rạ và trấu chiếm 40,8 triệu tấn/năm.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết đối tượng mẫu đất mỏ thiếc Hà Thượng và than sinh học rơm rạ. Quy định địa điểm và khung thời gian nghiên cứu (tháng 8/2015 đến tháng 12/2015). Xây dựng quy trình xử lý mẫu đất, nguyên tắc thiết kế thí nghiệm CRD 3 công thức x 3 lần nhắc lại, quy trình duy trì ẩm và phương pháp đo đạc các chỉ tiêu pH, Pb di động theo quy chuẩn hiện hành.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung vào 4 nội dung thực nghiệm và phân tích chính:

1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Hà Thượng

Xã Hà Thượng có diện tích tự nhiên 1.534,35 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 72,03% (1.104,97 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 27,04% (414,88 ha) và đất chưa sử dụng chiếm 0,93% (14,20 ha). Thổ nhưỡng chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng và đất đỏ vàng trên đá macma axit (chiếm 60% tổng diện tích), thích hợp cho phát triển cây chè. Toàn xã có 1.678 hộ với 5.468 nhân khẩu, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và khai khoáng.

2. Thực trạng khai thác thiếc và ô nhiễm đất tại xã Hà Thượng

Hoạt động khai thác thiếc lộ thiên do Xí nghiệp thiếc Đại Từ (cấp phép từ năm 1987 trên diện tích 76 ha, công suất thiết kế 20.000 tấn, khai thác tận thu đuôi quặng 15.000 m³/năm, sản xuất 140 tấn quặng thiếc 70% Sn/năm) và Công ty TNHH Xuất nhập khẩu tổng hợp Thái Nguyên thực hiện. Mỏ dừng khai thác từ năm 2009. Diện tích đất mỏ gồm 21 ha đã khai thác (19 ha hoàn thổ, 2 ha chưa hoàn thổ). Khảo sát 30 hộ dân cho thấy 26 hộ bỏ hoang đất (chiếm 20,57% diện tích bị mất) do đất cằn cỗi và ô nhiễm, chỉ có 4 hộ cải tạo trồng keo (chiếm 79,43% diện tích bị mất) nhưng cây phát triển kém.

Vị trí lấy mẫu pH Fe (mg/kg) Mn (mg/kg) Zn (mg/kg) Cd (mg/kg) Pb (mg/kg) As (mg/kg) Cu (mg/kg) Pb di động (mg/kg)
Đất ven suối nhận nước thải (1) 4,50 4.059,0 156,0 87,5 10,45 285,75 22,75 39,25 -
Đất bãi thải xí nghiệp (2) 5,40 6.496,0 222,5 <9,0 12,00 310,00 162,50 82,50 0,185
Đất giáp hồ chứa nước thải (3) 3,50 23.144,5 62,0 46,5 12,21 308,25 19,40 94,15 -
QCVN 03:2008/BTNMT - - - 300 10 300 12 100 -

Kết quả cho thấy đất có độ chua cao (pH từ 3,5 đến 5,4). Hàm lượng Asen tại bãi thải vượt quy chuẩn xấp xỉ 13 lần (162,5 mg/kg so với ngưỡng 12 mg/kg). Hàm lượng Cadimi (12,00 mg/kg) và Chì tổng số (310,00 mg/kg) đều vượt quy chuẩn cho phép. Hàm lượng Pb di động ban đầu trong đất bãi thải là 0,185 mg/kg.

3. Thành phần và tính chất của than sinh học từ rơm rạ

Than sinh học rơm rạ thể hiện tính kiềm mạnh và độ kiềm tăng theo nhiệt độ nhiệt phân: ở 300–450°C (mẫu TD1) đạt pH 9,60; ở 450–600°C (mẫu TD2) đạt pH 10,42; ở 600–850°C (mẫu TD3) đạt pH 11,31. Dung tích trao đổi cation dao động từ 694,52 đến 701,32 mmol/kg.

Thành phần nguyên tố của than sinh học rơm rạ gồm: Cacbon tổng số (50,20%), Cacbon cố định (47,50%), chất hữu cơ bay hơi (10,50%), Oxy (5,89%), Hydro (0,92%), Nitơ (0,85%) và Lưu huỳnh (0,14%). Hàm lượng dinh dưỡng có xu hướng giảm khi tăng nhiệt độ nhiệt phân do sự phân hủy nhiệt: Nitơ tổng số giảm từ 4,1 mg/g (TD1) xuống 1,5 mg/g (TD3); Photpho tổng số giảm từ 2,4 mg/g (TD1) xuống 0,6 mg/g (TD3); Kali tổng số đạt 2,4 mg/g ở TD1, giảm xuống 1,0 mg/g ở TD2 và tăng lại 2,0 mg/g ở TD3.

4. Khả năng xử lý Pb di động và biến thiên pH đất

Kết quả thực nghiệm theo dõi sau 4 tuần và 8 tuần được thể hiện cụ thể ở bảng số liệu sau:

Thời điểm theo dõi Chỉ tiêu phân tích CT1 (0% TSH) CT2 (5% TSH) CT3 (10% TSH) CV% LSD₀.₀₅
Sau 4 tuần pH trung bình 5,41 5,56 5,70 0,9944 0,1104
Pb di động TB (mg/kg) 0,159 0,080 0,050 5,0140 0,0096
Sau 8 tuần pH trung bình 6,53 6,72 6,98 0,9183 0,1237
Pb di động TB (mg/kg) 0,120 0,044 <0,020 6,6630 0,0082
  • Biến thiên pH: Bổ sung than sinh học làm tăng pH đất rõ rệt theo tỷ lệ phối trộn và thời gian. Sau 4 tuần, pH tăng từ 5,41 (CT1) lên 5,70 (CT3). Sau 8 tuần, pH ở CT1 đạt 6,53, CT2 đạt 6,72 và CT3 đạt mức trung tính 6,98 (tăng 1,07 lần so với CT1). Cơ chế tăng pH là do các oxit, hydroxit và cacbonat kim loại kiềm trong than sinh học hòa tan và hoạt động như chất cung cấp vôi cải tạo đất.
  • Khả năng cố định Pb di động: Sau 4 tuần, nồng độ Pb di động giảm từ 0,185 mg/kg ban đầu xuống 0,159 mg/kg ở CT1; 0,080 mg/kg ở CT2 (giảm 56,7%) và 0,050 mg/kg ở CT3 (giảm 73,0%). Sau 8 tuần, nồng độ Pb di động ở CT2 giảm xuống còn 0,044 mg/kg (giảm 76,2%) và ở CT3 giảm xuống dưới ngưỡng phát hiện (<0,020 mg/kg, giảm hơn 89,2%). Nồng độ Pb di động tỷ lệ nghịch với giá trị pH và tỷ lệ than sinh học bổ sung vào đất.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ kết quả phân tích về đặc tính kiềm của than sinh học và hiệu quả cố định Pb di động trong đất mỏ thiếc. Đề xuất kiến nghị tiếp tục mở rộng nghiên cứu thử nghiệm trên đồng ruộng thực tế và khảo sát hiệu quả cố định đối với các kim loại nặng khác.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập bức tranh ô nhiễm thực tế tại khu vực mỏ thiếc Hà Thượng: đất bãi thải bị chua hóa (pH 3,5–5,4), ô nhiễm Asen nghiêm trọng (162,5 mg/kg, vượt chuẩn gần 13 lần), tích lũy Chì tổng số (310 mg/kg), Cadimi (12 mg/kg) và Pb di động ban đầu ở mức 0,185 mg/kg.
  • Xác định than sinh học rơm rạ có tính kiềm mạnh (pH 9,60–11,31), hàm lượng cacbon cố định cao (47,50%) và dung tích trao đổi cation lớn (694,52–701,32 mmol/kg).
  • Chứng minh hiệu quả cố định kim loại nặng trong đất: Sau 8 tuần ủ đất, công thức phối trộn 5% than sinh học làm giảm hàm lượng Pb di động từ 0,185 mg/kg xuống 0,044 mg/kg; công thức 10% than sinh học đưa hàm lượng Pb di động về dưới 0,020 mg/kg, đồng thời nâng pH đất từ mức chua 5,4 lên mức trung tính 6,98.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Chính quyền địa phương và đơn vị khai thác cần có biện pháp cải tạo, xử lý ô nhiễm và san lấp hoàn thổ dứt điểm diện tích đất mỏ để giao lại cho người dân canh tác an toàn.
  • Cần mở rộng nghiên cứu thử nghiệm than sinh học rơm rạ trên quy mô ngoài đồng ruộng, kết hợp theo dõi sinh trưởng và mức độ tích lũy kim loại nặng trên các đối tượng cây trồng cụ thể.
  • Tiếp tục đánh giá khả năng hấp phụ và cố định của than sinh học đối với các kim loại nặng độc hại khác có trong đất mỏ như As, Cd, Cu, Zn.
  • Nghiên cứu tỷ lệ phối trộn tối ưu nhằm đảm bảo hiệu quả kỹ thuật xử lý môi trường đồng thời tiết kiệm chi phí cho người dân.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm định lượng về khả năng cố định kim loại chì hòa tan bằng than sinh học từ rơm rạ trên đối tượng đất bãi thải mỏ khoáng sản tại Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu chứng minh tính khả thi của giải pháp tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp địa phương để xử lý suy thoái đất khai khoáng, góp phần định hướng công nghệ kinh tế tuần hoàn trong quản lý môi trường đất.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Thí nghiệm mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm (bố trí trong chai nhựa dung tích 1 kg đất), chưa phản ánh đầy đủ tác động phức tạp của điều kiện tự nhiên ngoài đồng ruộng (như chế độ mưa, dòng rửa trôi bề mặt, xói mòn và hoạt động của vi sinh vật bản địa).
  • Thời gian theo dõi thực nghiệm giới hạn trong 8 tuần (với 2 mốc phân tích tại tuần 4 và tuần 8), chưa đánh giá được độ bền vững lâu dài của phức chất hấp phụ và nguy cơ tái giải phóng Pb khi môi trường đất thay đổi.
  • Nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích đơn chỉ tiêu kim loại nặng dạng linh động là Chì (Pb di động), chưa đánh giá đồng thời sự chuyển biến của các kim loại nặng có độc tính rất cao khác trong mẫu đất bãi thải như Asen (162,5 mg/kg) hay Cadimi (12 mg/kg).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Triển khai mô hình ô thí nghiệm ngoài hiện trường tại khu vực bãi thải mỏ thiếc Hà Thượng, kết hợp trồng các loại cây cải tạo đất (cây họ đậu, cỏ vetiver, keo).
  • Đo đạc đồng thời phổ kim loại nặng đa nguyên tố (As, Cd, Cu, Zn, Pb) ở các dạng liên kết khác nhau (dạng trao đổi, dạng liên kết oxit Fe-Mn, dạng liên kết hữu cơ) theo quy trình chiết phân đoạn.
  • Nghiên cứu cơ chế giải hấp phụ và tính ổn định của than sinh học trong đất theo thời gian nhiều năm.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Đất đai, Nông học: Tham khảo quy trình bố trí thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) trong đánh giá đất ô nhiễm; phương pháp xử lý thống kê nông hóa bằng SAS/Excel và phương pháp phân tích kim loại nặng di động.
  • Cán bộ quản lý môi trường và các đơn vị phục hồi mỏ: Kế thừa số liệu thực trạng ô nhiễm đất sau khai thác mỏ thiếc tại Đại Từ, Thái Nguyên; tham khảo định lượng liều lượng bón than sinh học (5% và 10%) nhằm trung hòa độ chua và cố định kim loại độc hại trước khi tiến hành tái định canh hoặc trồng rừng hoàn thổ.
  • Các nghiên cứu về công nghệ Biochar: Dữ liệu thành phần nguyên tố, dinh dưỡng khoáng (N, P, K) và biến thiên pH, CEC của than sinh học rơm rạ theo nhiệt độ nhiệt phân (300–850°C).

Câu hỏi thường gặp

1. Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng tại bãi thải mỏ thiếc Hà Thượng trước khi xử lý như thế nào?

Theo số liệu phân tích, đất bãi thải mỏ thiếc có tính axit mạnh với pH đạt 5,40. Hàm lượng Asen đạt 162,50 mg/kg, vượt quy chuẩn QCVN 03:2008/BTNMT xấp xỉ 13 lần (ngưỡng cho phép là 12 mg/kg). Hàm lượng Chì tổng số là 310,00 mg/kg (ngưỡng 300 mg/kg), Cadimi đạt 12,00 mg/kg (ngưỡng 10 mg/kg) và hàm lượng Pb di động ban đầu ghi nhận ở mức 0,185 mg/kg.

2. Nhiệt độ nhiệt phân ảnh hưởng thế nào đến tính chất của than sinh học rơm rạ?

Nhiệt độ nhiệt phân tỷ lệ thuận với giá trị pH của than sinh học: ở khoảng nhiệt độ 300–450°C đạt pH 9,60; từ 450–600°C đạt pH 10,42 và từ 600–850°C đạt pH 11,31. Dung tích trao đổi cation (CEC) biến động nhẹ trong khoảng 694,52–701,32 mmol/kg. Ngược lại, hàm lượng các chất dinh dưỡng nhạy cảm với nhiệt như Nitơ tổng số và Photpho tổng số giảm mạnh khi nhiệt độ nhiệt phân tăng cao.

3. Hiệu quả cố định Pb di động của than sinh học sau 8 tuần thực nghiệm đạt mức nào?

Sau 8 tuần, ở công thức đối chứng CT1 (0% than sinh học), Pb di động giảm tự nhiên còn 0,120 mg/kg. Ở công thức CT2 (5% than sinh học), hàm lượng Pb di động giảm xuống 0,044 mg/kg (giảm 76,2% so với ban đầu). Ở công thức CT3 (10% than sinh học), hàm lượng Pb di động giảm xuống dưới ngưỡng phát hiện (<0,020 mg/kg, giảm hơn 89,2%).

4. Mối quan hệ giữa sự gia tăng pH đất và nồng độ Pb di động được ghi nhận ra sao?

Nồng độ Pb di động trong dung dịch đất tỷ lệ nghịch với giá trị pH. Sau 8 tuần, khi pH đất tăng từ 6,53 (ở CT1) lên 6,72 (ở CT2) và đạt 6,98 (ở CT3), nồng độ Pb di động tương ứng giảm từ 0,120 mg/kg xuống 0,044 mg/kg và dưới 0,020 mg/kg. Tính kiềm của than sinh học thúc đẩy quá trình kết tủa Pb dưới dạng không tan và tăng khả năng giữ cation của phức hệ hấp thu đất.

5. Hiện trạng quản lý và sử dụng đất sau khai thác tại khu vực mỏ thiếc Hà Thượng diễn ra như thế nào?

Trong tổng số 21 ha đất đã khai thác tại mỏ thiếc, có 19 ha đã được hoàn thổ và 2 ha chưa hoàn thổ. Khảo sát trên 30 hộ dân bị ảnh hưởng cho thấy có tới 26 hộ bỏ hoang đất (tương ứng 20,57% diện tích bị mất) do đất bị suy thoái và ô nhiễm; chỉ có 4 hộ sử dụng đất để trồng keo (tương ứng 79,43% diện tích bị mất) nhưng cây trồng sinh trưởng chậm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Huyền Trang đã phản ánh thực trạng suy thoái và ô nhiễm kim loại nặng nghiêm trọng tại khu vực bãi thải mỏ thiếc Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh than sinh học sản xuất từ rơm rạ có tính kiềm cao, hàm lượng cacbon cố định lớn và có khả năng trung hòa độ chua của đất hiệu quả. Việc bổ sung than sinh học ở tỷ lệ 5% và 10% giúp giảm mạnh hàm lượng Pb di động từ 0,185 mg/kg xuống dưới 0,020 mg/kg sau 8 tuần theo dõi. Kết quả này khẳng định tính khả thi của giải pháp sử dụng than sinh học từ phế phụ phẩm rơm rạ để cố định kim loại nặng, mở ra hướng ứng dụng thiết thực trong công tác phục hồi và cải tạo môi trường đất sau khai thác khoáng sản.