CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ VIÊM PHỔI BỆNH VIỆN 1. Định nghĩa Viêm phổi là bệnh lý điển hình của tình trạng nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới. Theo đặc điểm cơ chế bệnh sinh, viêm phổi là tình trạng viêm nhiễm tổ chức phổi (nhu mô phổi) do các vi sinh vật gây nên, với đặc trưng mô bệnh học là tình trạng lắng đọng bạch cầu đa nhân trung tính ở tiểu phế quản, phế nang và tổ chức kẽ [9].
Theo Hội Bệnh truyền nhiễm Hoa Kì/Hội Lồng ngực Hoa Kì (IDSA/ATS) 2016, VPBV (viêm phổi bệnh viện) và VPTM (viêm phổi thở máy) được xem là hai nhóm bệnh khác nhau và viêm phổi liên quan chăm sóc y tế không được xem là VPBV [21]. Tuy nhiên, nhận định trên của IDSA/ATS vẫn còn rất mới nên trong phạm vi đề tài này, VPTM vẫn được coi là dạng phổ biến của VPBV. VPBV được định nghĩa là tổn thương do nhiễm khuẩn phổi xuất hiện sau khi người bệnh nhập viện ít nhất 48 giờ mà trước đó không có biểu hiện triệu chứng hoặc ủ bệnh tại thời điểm nhập viện [21]. VPTM là tình trạng viêm phổi xảy ra ở điều kiện tương tự như ở trên nhưng trên, những bệnh nhân sau 48 giờ thở máy (qua ống nội khí quản hoặc canuyn mở khí khí quản), không trong thời kì ủ bệnh tại thời điểm bắt đầu thở máy [9], [21].
Tình hình dịch tễ VPBV/VPTM là nhiễm khuẩn bệnh viện phổ biến thứ hai và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại Hoa Kỳ. Trong đó, tỉ lệ mắc VPBV là 5-10/1000 ca nhập viện [44], còn đối với VPTM tỉ lệ mắc phải là 2- 16/1000 ngày thở máy. Tử suất do VPTM dao động từ 24 - 50% và tăng lên 76% khi với bệnh là vi khuẩn đa kháng kháng sinh [44]. Nghiên cứu của Arabi cho thấy tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân VPBV dao động từ 16 - 94% so với những bệnh nhân không VPBV 0,2% - 51%, thời gian điều trị được ghi nhận bị kéo dài 4 hơn ở bệnh nhân VPBV dao động từ 8-24 ngày so với 2,5 - 13 ngày ở bệnh nhân không mắc VPBV [43].
Tại Việt Nam, nhiều đề tài nghiên cứu về VPBV/VPTM đã được thực hiện tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc. Tỷ lệ VPTM/1000 ngày thở máy tại khoa HSTC, Bệnh viện Bạch Mai được ghi nhận qua hai nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quang là 46/1000 ngày thở máy trong giai đoạn 2011 – 2015 [38]. Tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2018, tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân VPTM là 23,81%, trong đó tỷ lệ tử vong xác định do VPTM là nguyên nhân chính chiếm 17,46% [36]. Tác nhân gây bệnh 1.
Cơ chế bệnh sinh Cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể khi có vật lạ xâm nhập, bao gồm: hệ thống lông - dịch nhày của đường dẫn khí, cơ hô hấp - phản xạ ho hắt hơi đẩy vật lạ ra ngoài, các tế bào miễn dịch như đại thực bào phế nang, bạch cầu đa nhân trung tính. Tuy nhiên, khi bệnh nhân tiếp nhận các thiết bị xâm lấn như nội khí quản, canuyn mở khí quản, cơ chế bảo vệ tự nhiên này bị cản trở, vô hình chung tạo điều kiện xuất hiện nhiễm khuẩn cơ hội. Bên cạnh đó, các bệnh mắc kèm hoặc thuốc dùng kèm gây suy giảm miễn dịch cũng góp phần gây ra nhiễm khuẩn cơ hội. Các vi sinh vật xâm nhập vào đường hô hấp dưới theo ba con đường phổ biến: (1) hít phải từ dịch hầu họng, (2) hít phải qua các hạt khí dung và (3) theo dòng máu từ các nhiễm trùng ngoài phổi di cư đến.
Phần lớn các trường hợp VPTM là do bệnh nhân hít phải các giọt nhỏ chứa vi khuẩn cư ngụ ở đường hô hấp trên hoặc từ đường tiêu hóa do sự trào ngược dịch dạ dày, vi khuẩn thâm nhập vào đường dẫn khí và phế nang. Ở các bệnh nhân hôn mê, rối loạn tri giác, rối loạn nhịp thở, tình trạng này càng dễ dàng xảy ra hơn. Bệnh nhân thường hít các chất tiết vào đường hô hấp dưới khi thay đổi tư thế hoặc trong quá trình tháo bóng chèn (cuff) hoặc đặt lại nội khí quản, khiến vi khuẩn thâm nhập sâu hơn vào đường dẫn khí. Bên cạnh đó, thuốc dùng đồng thời trong quá trình hồi sức cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn.
5 Bình thường môi trường PH dạ dày rất acid, với pH từ 1-3, không phải là điều kiện cho vi khuẩn phát triển. Việc sử dụng các thuốc như thuốc ức chế bơm proton (PPI), kháng thụ thể H2 histamin… để dự phòng loét tiêu hóa do stress ở bệnh nhân hồi sức có thể tạo thuận lợi cho sự phát triển các vi khuẩn đường ruột nói riêng (K. pneumoniae) và các vi khuẩn gram âm gây bệnh cơ hội nói chung [16]. Căn nguyên gây bệnh Căn nguyên thường gặp gây VPBV, VPTM, bao gồm: K.
Tuy nhiên, tỷ lệ ghi nhận các căn nguyên này lại có sự khác biệt giữa các nghiên cứu. Một tổng quan hệ thống về VPTM trên bệnh nhân người lớn tại các nước đang phát triển công bố năm 2008 cho thấy tác nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn gram âm chiếm 41%-92% trong đó hay gặp nhất là P.aeruginosa 9-52%, tiếp đó là A.baumannii 0-36%, cầu khuẩn gram dương chiếm 6-58% [9]. Theo dữ liệu từ Mạng lưới An toàn Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NHSN), các vi khuẩn phổ biến phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân VPTM là: S. Thời gian nằm điều trị tại khoa HSTC ( Hồi Sức Tích Cực), các kháng sinh sử dụng trước đó và bệnh lý nền ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu vi khuẩn gây VPBV.
Với VPTM khởi phát sớm (<5 ngày), bệnh nguyên thường là tụ cầu vàng nhạy cảm methicillin (MSSA), S. Trong khi đó, VPTM khởi phát muộn (>5 ngày), bệnh nguyên có thể là tụ cầu kháng methicillin (MRSA), A. Bệnh nhân đã được dùng kháng sinh đường tĩnh mạch trước đó có nguy cơ cao mắc MRSA, P.baumannii và các vi khuẩn gram âm đa kháng khác. Ngoài ra, gần đây vi nấm cũng là tác nhân gây VPBV rất đáng chú ý, đặc biệt trên những bệnh nhân có cơ địa bị suy giảm miễn dịch hoặc sử dụng kháng sinh phổ rộng thời gian dài [43].
VPBV, VPTM do virus rất hiếm xảy ra ở người có hệ miễn dịch bình thường. Tuy nhiên đã có báo cáo về các đợt bùng phát VPBV, VPTM theo mùa do virus cúm hay virus sởi [44]. 6 Liên quan đến tình hình dịch tễ tại Việt Nam, vi khuẩn gram âm được ghi nhận đa số (84,2%), trong tổng số vi khuẩn phân lập được từ bệnh phẩm của Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai vào năm 2011.pneumoniae chiếm 14,2% và E. Nghiên cứu đa trung tâm của Lý Ngọc Kính tại 19 bệnh viện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 - 2010 cho thấy hai chủng A.aeruginosa chiếm 56% trong tổng số các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện, trong đó có VPBV [19].
Nghiên cứu tại khoa HSTC, Bệnh viện Chợ Rẫy, Vũ Quỳnh Nga đã ghi nhận A.baumannii là tác nhân chủ yếu gây VPTM, với tỷ lệ 55,7% [28]. Chẩn đoán - Viêm phổi bệnh viện: chẩn đoán khi viêm phổi xuất hiện sau 48 giờ nhập viện và có ít nhất một trong các triệu chứng sau: [9] + Sốt (> 380C) đã loại trừ các nguyên nhân khác + Tăng bạch cầu (≥ 12 x 109/L) hoặc giảm bạch cầu (≤ 4 x 109/L) + Thay đổi ý thức ở bệnh nhân cao tuổi (> 70 tuổi) đã loại trừ các nguyên nhân khác và có ít nhất một trong các triệu chứng sau: + Thay đổi tính chất của đàm:; hay tăng tiết đàm; hay tăng nhu cầu hút đàm + Ho hoặc ho tăng lên, hoặc khó thở hoặc thở nhanh + Khám phổi có rale bệnh lý + Xét nghiệm khí máu: giảm oxy máu, tăng nhu cầu oxy hoặc thở máy. + Tổn thương trên phim phổi: tổn thương mới xuất hiện hoặc tiến triển trên phim phổi và không mất đi nhanh, có thể chụp X quang phổi hoặc chụp cắt lớp vi tính phổi. Các dạng tổn thương có thể gặp là: thâm nhiễm, đông đặc, tạo hang.
- Viêm phổi thở máy: thời điểm xuất hiện viêm phổi sau khi đặt nội khí quản hoặc mở khí quản và/hoặc thở máy sau 48 giờ, có 1 trong các dấu hiệu sau: [9] + Sốt (>380C) đã loại trừ các nguyên nhân khác + Tăng bạch cầu (≥ 12 x 109/L) hoặc giảm bạch cầu (≤ 4 x 109/L) + Thay đổi ý thức ở bệnh nhân cao tuổi (> 70 tuổi) loại trừ các nguyên nhân khác kèm có ít nhất một trong các triệu chứng sau: 7 + Đàm mủ hay thay đổi tính chất của đờm hay tăng tiết đờm hay tăng nhu cầu hút đờm + Ho hoặc ho tăng lên, hoặc khó thở hoặc thở nhanh + Khám phổi có rale + Xét nghiệm khí máu xấu đi: giảm oxy máu, tăng nhu cầu oxy + Tổn thương trên phim phổi: tổn thương mới xuất hiện hoặc tiến triển trên phim phổi và không mất đi nhanh, có thể chụp X quang phổi hoặc chụp cắt lớp vi tính phổi. Các dạng tổn thương có thể gặp là: thâm nhiễm, đông đặc, tạo hang. Phác đồ điều trị VPBV/VPTM của IDSA/ATS (2016) Năm 2016, IDSA/ATS đưa ra Hướng dẫn mới trong điều trị VPBV/VPTM dựa trên những bằng chứng mới thu được từ các tổng quan hệ thống và các phân tích gộp được thực hiện gần đây. Theo Hướng dẫn này, VPBV và VPTM được xem là hai nhóm bệnh khác nhau và có khuyến cáo về phác đồ điều trị kinh nghiệm riêng biệt [21].
Năm 2017, Hội Hồi sức cấp cứu - Chống độc kết hợp với Hội Hô hấp Việt Nam đã xây dựng “Khuyến cáo chẩn đoán và xử trí viêm phổi bệnh viện/viêm phổi liên quan thở máy”, giúp các bác sĩ lâm sàng có phương hướng rõ ràng và hợp lý trong chẩn đoán, điều trị nhằm cải thiện tiên lượng VPBV/ VPTM ở bệnh nhân người lớn [30]. Về cơ bản, khuyến cáo này của Hội Hồi sức cấp cứu - Chống độc tương đồng với hướng dẫn của IDSA/ATS (2016). Phác đồ ban đầu * Viêm phổi bệnh viện 8 Bảng 1.