CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Chất thải điện – điện tử 1.1 Khái niệm “Chất thải điện tử” hay “thiết bị điện - điện tử thải” (EEE) là những sản phẩm đã bị chủ sở hữu loại bỏ như chất thải mà không có ý định tái sử dụng lại [9]. Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD chất thải điện tử là “Bất kì thiết bị gia dụng nào tiêu thụ điện và đã đạt đến vòng đời cuối cùng của nó”. Ngày nay, việc sản xuất thiết bị điện và điện tử (Electrical and Electronic Equipment) vẫn là một trong những hoạt động sản xuất toàn cầu đang phát triển nhanh nhất. Doanh thu của ngành điện – điện tử thậm chí còn vượt xa so với các nhà sản xuất ô tô.
Sự tăng trưởng nhanh của sự phát triển này cũng là thách thức lớn đối với công tác quản lý chất thải ở các nước đã và đang phát triển. Công nghệ phát triển nhanh và nhu cầu cao của người tiêu dùng là một trong những yếu tố góp phần làm tăng lượng chất thải điện, điện tử [10].2 Phân loại chất thải điện tử Theo báo cáo nghiên cứu nhóm V. Kuehr của trường đại học United Nation năm 2018 về thống kê chất thải điện tử, định nghĩa về rác thải điện tử rất rộng, bao gồm sáu loại chất thải [11]: Nhóm 1: Thiết bị trao đổi nhiệt độ, thường được gọi là thiết bị làm mát và đông lạnh. Các thiết bị tiêu biểu: tủ lạnh, tủ đông, máy điều hòa nhiệt độ, máy bơm nhiệt.
Nhóm 2: Màn hình. Thiết bị điển hình bao gồm: ti vi, màn hình, máy tính xách tay và máy tính bảng. Thiết bị điển hình bao gồm: đèn huỳnh quang, đèn phóng điện cường độ cao và đèn LED. Nhóm 4: Thiết bị lớn.
Các thiết bị tiêu biểu bao gồm máy giặt, máy sấy quần áo, máy rửa bát, bếp điện, máy in lớn, thiết bị sao chép và tấm quang điện. 5 Nhóm 5: Thiết bị nhỏ. Thiết bị tiêu biểu bao gồm máy hút bụi, lò vi sóng, thiết bị thông gió, lò nướng bánh mì, ấm điện, máy điện cạo râu, cân, máy tính, bộ radio, máy quay video, đồ chơi điện và điện tử, dụng cụ điện và điện tử nhỏ, thiết bị y tế nhỏ, dụng cụ giám sát và điều khiển nhỏ. Nhóm 6: Thiết bị viễn thông và công nghệ thông tin nhỏ.
Thiết bị điển hình bao gồm điện thoại di động, hệ thống định vị toàn cầu (GPS), bộ định tuyến, máy tính cá nhân, máy in, điện thoại.3 Sự phát thải của chất thải điện – điện tử trên thế giới Chất thải điện - điện tử có thể bao gồm các thành phần khác nhau bao gồm: kim loại, gốm sứ, thủy tinh và nhựa, trong đó nhựa được sử dụng trong chất thải điện tử chiếm tới 20% [12]. Theo một nghiên cứu ước tính, lượng chất thải điện tử được tạo ra trong năm 2016 tương đương 44,7 triệu tấn và được dự đoán sẽ tăng lên khoảng 52,2 triệu tấn vào năm 2021, tốc độ tăng trưởng hàng năm là 3 - 4% [13]. Kinh phí đầu tư để tạo ra trong các nguyên liệu thô của rác thải điện tử được ước tính khoảng 64 tỷ đô la Mỹ (55 tỷ Euro) [5]. Vào năm 2019, lượng chất thải nhựa điện tử được sinh ra trên thế giới được ước tính 53,6 triệu tấn, mức trung bình là 7,3 kg/người.
Theo báo cáo giám sát, chất thải điện tử đã tăng 9,2 triệu tấn kể từ năm 2014 và được dự đoán sẽ tăng lên 74,7 triệu tấn vào năm 2030 (tăng gần gấp đôi chỉ trong vòng 16 năm) [14]. Tại Châu Á, lượng chất thải điện tử chiếm cao nhất khoảng 24,9 triệu tấn vào năm 2019, tiếp theo là Châu Mỹ (13,1 triệu tấn) và Châu Âu (12 triệu tấn). Trong khi đó, châu Phi và Châu Đại Dương có lượng chất thải điện lần lượt là 2,9 triệu tấn và 0,7 triệu tấn. Tuy nhiên, lượng rác thải điện tử trên bình quân đầu người tại Châu Âu đứng đầu thế giới với 16,2 kg/người.
Châu Đại Dương chiếm vị trí thứ hai với 16,1 kg/người, tiếp theo là Châu Mỹ chiếm 13,3 kg/người. Trong khi đó, lượng phát sinh chất thải nhựa ở Châu Á và Châu Phi lần lượt là 5,6 và 2,5 kg/người. Điều này có thể được lý giải vì các tầng lớp với mức thu nhập cao hơn sẽ có nhu cầu sử dụng các thiết bị điện – điện tử càng cao. Bên cạnh đó, việc sử dụng thiết bị điện tử phân khúc cao và bắt kịp sự phát triển của công nghệ đang được cho là sẽ giúp con người xác định 6 giá trị của chính bản thân.
Ngoài ra, đô thị hóa phát triển và tiếp tục công nghiệp hóa ở một số nơi trên thế giới đang dẫn đến lượng chất thải điện tử có xu hường ngày càng tăng lên [14]. Vào năm 2019, việc thu thập và tái chế chất thải chiếm khoảng 9,3 triệu tấn, chiếm 17,4% lượng chất thải điện tử phát sinh. Dẫn đến các hoạt động tái chế không đuổi kịp với tốc độ phát sinh của rác thải điện tử trên toàn cầu. Các thống kê trong báo cáo cho thấy rằng vào năm 2019, các lục địa với tỷ lệ thu gom và tái chế cao nhất là Châu Âu với 42,5%, châu Á đứng thứ hai với 11,7%, châu Mỹ và Châu Đại Dương lần lượt ở mức 9,4% và 8,8%, và Châu Phi có tỷ lệ thấp nhất là 0,9% [14].4 Sự phát thải của chất thải điện – điện tử ở Việt Nam Rác thải điện tử chủ yếu đến từ các hộ gia đình (thiết bị điện gia dụng), văn phòng làm việc (máy tính cá nhân, photocopy, máy fax, máy in và máy scan) và ngành công nghiệp điện tử (các bộ phận / thiết bị / sản phẩm điện tử bị lỗi).
Nguồn chất thải điện tử tại Việt Nam là các thiết bị bị loại bỏ và nhập khẩu bất hợp pháp từ nước ngoài. Nguồn rác thải điện tử cũ bất hợp pháp và không rõ ràng vào Việt Nam [15] được thể hiện qua số liệu trong Bảng 1. Trong số đó, rác thải điện tử gia dụng gây ra nhiều vấn đề quan ngại do kích thước lớn và không an toàn trong quản lý. Theo nghiên cứu của URENCO, số lượng thiết bị điện tử gia dụng bị loại bỏ ở Việt Nam xấp xỉ 10,6 triệu (cụ thể là 4,85 triệu ti vi, 2,27 triệu tủ lạnh, 2,6 triệu máy giặt và 873 máy điều hòa nhiệt độ).
Đây là nguồn rác thải điện tử được thu gom bởi các hệ thống thu gom tư nhân, do đó chỉ có dữ liệu ước tính và không có thông tin về khối lượng và điểm đến của nguồn thải này. Số lượng thiết bị gia dụng được thải bỏ ở Việt Nam được dự đoán đến năm 2025 được thể hiện ở (Hình 1.1 Ước tính số lượng thiết bị gia dụng lớn bị loại bỏ ở Việt Nam (URENCO, 2007) [15] Hình 1.1 Dự đoán số lượng thiết bị gia dụng lớn bị loại bỏ ở Việt Nam [15] 8 1.2 Quản lý chất thải điện – điện tử của các khu vực trên thế giới 1.1 Các vấn đề về quản lý chất thải điện tử ở các nước phát triển Tại Châu Âu, cơ sở hạ tầng quản lý chất thải điện tử được tuân thủ rất tốt để thu gom chất thải điện tử tại các cửa hàng và thành phố. Quá trình này được thực hiện bởi các công ty tư nhân. Việc thu gom chất thải điện – điện tử luôn được kết hợp với quá trình thu hồi các thành phần có thể tái chế được và xử lý phần còn lại theo các phương pháp thân thiện với môi trường.
Do đó, thống kê trong năm 2017 cho thấy 59% chất thải điện tử được tạo ra ở Bắc Âu và 54% chất thải điện tử được tạo ra ở Tây Âu là được ghi nhận là được tái chế chính thức. Việc thu gom chất thải điện – điện tử tại các hộ gia đình được thực hiện bởi tổ chức thu gom. Các tổ chức này nhận được sự hỗ trợ kinh phí từ chính phủ và các công ty tư nhân. Do đó, việc thu gom rác thải điện tử có thể bị cản trở do các cơ quan này thường được cấp vốn thấp.
Vì vậy, các cơ quan chính quyền thường lưu trữ thiết bị điện – điện tử thải bỏ [14]. Điều này dẫn đến việc quản lý chất thải điện tử ở một số quốc gia ở châu Âu đang được thực hiện bằng cách xuất khẩu để tái sử dụng. Bên cạnh đó, Mỹ đã thực hiện các biện pháp chung để ngăn chặn rác thải điện tử ở cấp liên bang. Chính quyền Mỹ đã có một loạt các biện pháp quản lý để hạn chế các tác động bất lợi do việc thải bỏ và xử lý thiết bị điện tử không phù hợp.
Đối với một số thiết bị điện tử đáp ứng các tiêu chí nhất định cần phải được quản lý theo các yêu cầu của Đạo luật Bảo tồn và Phục hồi Tài nguyên (RCRA). Các cơ quan liên bang được hướng dẫn sử dụng các máy tái chế điện tử đều được chứng nhận theo tiêu chuẩn Tái chế có trách nhiệm (R2) hoặc E-Stewards. Hàng trăm cơ sở tái chế thiết bị điện tử đã được chứng nhận cho một hoặc cả hai chương trình chứng nhận. Các tiêu chuẩn này đã được cập nhật và nâng cao kể từ khi thành lập vào năm 2010.
Hiện nay, Mỹ Latinh có rất nhiều công ty tham gia vào các hoạt động xử lý và quản lý chất thải điện tử, đặc biệt là khi nói đến sự phát triển của các nhà tái chế địa phương. Mặc dù đã có một số ý kiến đóng góp về việc tái chế nhưng vẫn chưa thể thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với điều kiện địa phương của từng khu vực. Ở các quốc gia có khung pháp lý cụ thể về rác thải điện tử và quá trình thu gom rác thải bắt buộc, chẳng hạn 9 như Colombia và Peru, sự tăng trưởng về khối lượng thu gom rất ổn định và đáng chú ý. Song song đó, phạm vi các thiết bị điện tử được thu thập cũng được mở rộng, không còn chỉ tập trung vào công nghệ thông tin và truyền thông, mà còn áp dụng cho các thiết bị làm mát.
Hiện nay, đã có một số dự án tập trung chủ yếu vào các chương trình tiết kiệm năng lượng và phát triển cơ sở hạ tầng địa phương nhằm đảm bảo việc xử lý các thiết bị loại bỏ. Do đó, sẽ giảm thiểu khí thải độc hại phát sinh từ quá trình xử lý. Bên cạnh đó, do được thúc đẩy bởi các quy định, tầm quan trọng của các hệ thống thu thập chính thức cũng ngày càng tăng. Một lượng rất lớn chất thải điện tử vẫn được các khu vực phi chính thức xử lý.