Chương 1 - TỔNG QUAN THU HỒI KIM LOẠI TRONG NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÍCH LY 1. Ý nghĩa của việc thu hồi kim loại trong nước thải công nghiệp Trong công nghiệp nói chung và các ngành công nghiệp điện tử, chế biến dầu khí, năng lượng … nói riêng, vấn đề chất thải và đặc biệt là nước thải đã, đang và tiếp tục là vấn đề nan giải, thách thức đối với loài người. Cạn kiệt nguồn nguyên liệu dẫn đến việc sản xuất của nhiều nước bị phụ thuộc vào một số quốc gia cung ứng nguyên liệu, đôi khi dẫn đến những vấn đề chính trị không mong muốn. Chính vì vậy, nhiều nước đã chuyển hướng sang khai thác và sử dụng bền vững nguồn nguyên liệu sẵn có, áp dụng giải pháp kinh tế tuần hoàn sử dụng nguyên liệu tái chế cũng như các nguồn năng lượng tái tạo, một mặt giải quyết được phần nào vấn đề môi trường, một mặt giảm bớt nguy cơ phụ thuộc vào nước thứ ba, tăng hiệu quả và giảm chi phí sản xuất.
Việc thu hồi và tái sử dụng các kim loại quý, đất hiếm đã và đang được nhiều quốc gia quan tâm, đặc biệt ở một số nước châu Á, là “thung lũng Silicon” của ngành công nghiệp điện tử. Các kim loại quý hiếm thường có trong chất thải điện tử (ewaste) như Gold (Au), Silver (Ag), Platinum (Pt).hoặc trong nước thải công nghiệp điện tử như Europium (Eu), Yttrium (Y), Neodyum (Nd), Indium (In),… có giá trị kinh tế cao, cần thiết phải được thu hồi. Ví dụ như: Theo [1], hàng năm ở Việt Nam phát thải hàng trăm triệu bóng đèn huỳnh quang thải cần xử lý trong đó chứa hàng tấn các nguyên tố đất hiếm như Y2O3 và Eu2O3 có thể thu hồi. Hoặc theo báo cáo năm 2011 của Viện nghiên cứu môi trường nước (Mỹ) [2], có thể thu hồi lượng Ag trị giá 8.664$/năm từ nguồn nước thải với năng suất 37.
Tính toán của Chen (2013) [3] cho thấy lượng Au có thể thu hồi trên mỗi 10m3 nước thải mạ điện trị giá 4600$. Heming Wang (2014) [4] đã đưa ra bảng tổng kết hàm lượng các kim loại giá trị cao có trong nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp. Có thể thấy, trong nước thải công nghiệp chứa nhiều loại kim loại quý hiếm như Au, Ag, Mo (Molibdenum), V (Vanadium), Sr (Strontium), Ni (Nickel),…nhưng với hàm lượng tương đối thấp. Ví dụ: hàm lượng Au trong nước thải mạ điện chỉ chiếm khoảng 10 mg/L; hàm lượng Sr trong nước thải công nghiệp axit chỉ nhỏ hơn 5 mg/L.
Một trong những nguyên tố tương đối quý hiếm và hiện đang rất được quan tâm thu hồi từ nước thải là Indium. Nguyên tố này được phân bố trong tự nhiên nhiều nhất ở Trung Quốc (hình 1.1) và cũng được khai thác nhiều nhất tại quốc gia này (hình 1. Đây là nguyên tố quý (có giá là 560 $/kg Indium [5]) và hiếm (chỉ chiếm khoảng 0,1 phần triệu trong lớp vỏ trái đất [6]) đồng thời có vai trò hiện chưa thể thay thế trong ngành công nghiệp bán dẫn. 4 luan an Hình 1.1 Phân bố Indium trên thế giới (nguồn: [7]) Hình 1.2 Sản lượng khai thác Indium trên thế giới (nguồn: [7]) Trên 70% Indium trên thế giới được dùng để sản xuất ITO [7] (hợp chất chứa 90% In2O3 và 10% SnO2) [8].
ITO là vật liệu không thể thiếu để chế tạo điện cực trong suốt, ứng dụng trong chế tạo màn hình tinh thể lỏng (LCD) [8] cho các sản phẩm như ti vi, điện thoại thông minh (smart phone) .Trong quá trình sản xuất điện cực ITO, chỉ 30% Indium có mặt trong sản phẩm cuối, phần còn lại (70%) đi ra cùng nước thải [5]. Lượng Indium đã sử dụng ở Đài Loan được ước tính là 65 tấn/năm. Hàm lượng trung bình của Indium trong nước thải này là 200 mg/L. Do việc tăng trưởng nhu cầu sử dụng các thiết bị có màn hình tinh thể lỏng LCD (đặc biệt là smartphone) và tuổi thọ trung bình của chúng khá thấp (trung bình 7-8 năm) [9], yêu cầu về màn hình LCD và tương ứng với nó là lượng Indium cần sử dụng ngày càng tăng.
Tuy nhiên, trữ lượng của Indium có hạn và hiện chưa tìm được vật liệu thích hợp để thay thế Indium trong sản xuất. Vì thế, thu hồi Indium để tái chế đang là vấn đề rất được quan tâm và có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp cân bằng giữa cung - cầu và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường. Indium có thể được thu hồi từ các thiết bị LCD thải ra, từ bột ITO thải hoặc từ dung dịch khắc axit của nhà máy sản xuất các thiết bị này. Trong đó, nguồn đáng kể để thu hồi Indium là dung dịch thải từ quá trình khắc axit [5] với thành phần gồm 200 mg/L In3+ và 2% khối lượng axit oxalic, pH của dung dịch bằng 1.
5 luan an Trong công nghiệp sản xuất màn hình LCD, quy trình tái chế Indium từ dung dịch thải của quá trình khắc axit được thể hiện trong hình 1.3 Quy trình thu hồi Indium từ nước thải công nghiệp của quá trình khắc axit (nguồn: [10]) Indium tinh khiết được sử dụng để chế tạo điện cực ITO. Trong quá trình sản xuất này, 70% Indium được thải ra ngoài dưới dạng nước thải của quá trình khắc axit. Trong nước thải này, ngoài Indium còn chứa các ion kim loại hóa trị III như: Bi, Fe, La, Ga, As [5] [11]. Bằng phương pháp thu hồi thích hợp, Indium được tách riêng khỏi các kim loại khác và đưa sang thiết bị điện phân.
Để bước điện phân đạt hiệu quả cao, giảm tiêu tốn năng lượng, yêu cầu nồng độ Indium càng lớn càng tốt (≥1g/L). Theo phân tích ở trên, yêu cầu đối với bước thu hồi và tăng nồng độ như sau: - Thu hồi được Indium có độ tinh khiết cao - Nồng độ Indium trong nước thải sau thu hồi đạt nhỏ hơn 1mg/L - Nồng độ Indium trong dung dịch sau thu hồi càng cao càng tốt (≥1g/L). Ngoài ra,yêu cầu đối với quá trình sản xuất bao gồm: chi phí hợp lý, sử dụng ít hóa chất độc hại, đắt tiền, hệ thống thiết bị nhỏ gọn, tiêu tốn ít năng lượng. Các phương pháp xử lý, thu hồi kim loại trong nước thải 1.
Phương pháp kết tủa hóa học Phương pháp kết tủa hóa học dựa trên phản ứng hóa học giữa hóa chất đưa vào nước thải và ion kim loại cần tách, ở pH thích hợp sẽ tạo thành hợp chất kết tủa và được tách ra khỏi nước thải bằng phương pháp lắng. Nguyên tắc của phương pháp này là sự thay đổi độ hòa tan của kim loại trong dung dịch ở các giá trị pH khác nhau. Ở một giá trị pH nhất định của dung dịch, khi nồng độ ion kim loại vượt quá nồng độ bão hòa thì kim loại sẽ bị kết tủa. Các chất thường dùng để điều chỉnh pH bao gồm: vôi, muối cacbonat, muối sunfua…tương ứng với các phương pháp kết tủa hyđrôxit, cacbonat [12].
Các ion kim loại như: Fe2+, Fe3+, Mn2+ , Cu2+, Zn2+, Ni2+, Co2+ có thể dễ dàng kết tủa hoàn toàn với các hydroxit, trong khi quá trình kết tủa các ion kim loại khác như 6 luan an Hg2+, Cd2+ và Pb2+ thường diễn ra chậm và không hoàn toàn. Nếu xử lý nước thải chứa Cr6+, cần phải khử Cr6+ về Cr3+ bằng Na2S2O5, FeSO4 hoặc Fe dạng kim loại trước khi kết tủa. Để phân hủy các hợp chất cơ kim trong nước trước khi thực hiện kết tủa, cần sử dụng phương pháp clo hóa nước. Khi hydroxit kim loại có độ tan thấp và thời gian kết tủa lâu (2 đến 4 giờ), cần tiến hành kết tủa ở pH cao [12].
Ngoài ra, một số phương pháp xử lý khác trên cơ sở áp dụng kỹ thuật đồng kết tủa hoặc kết hợp các tác nhân kết tủa cũng được áp dụng. Hiệu quả loại bỏ một số ion kim loại ra khỏi nước thải được tổng kết trong bảng 1. Phương pháp kết tủa vẫn được coi là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất để loại bỏ ion kim loại ra khỏi nước thải ở quy mô công nghiệp do chi phí thấp, vận hành đơn giản, dễ khống chế pH một cách tự động [12]. Phần lớn các cơ sở mạ điện sử dụng phương pháp kết tủa để xử lý nước thải, trong đó phương pháp kết tủa bằng hyđrôxit được sử dụng nhiều nhất.
Phương pháp kết tủa hóa học được áp dụng phổ biến trong xử lý nước thải giai đoạn I cho ngành công nghiệp mạ, gia công kim loại trước khi dòng thải được đưa vào trạm xử lý chung.1 Loại bỏ ion kim loại bằng phương pháp kết tủa (nguồn: [4]) Hiệu quả Nồng độ kim pH loại bỏ Ion kim loại Chất kết tủa loại ban đầu tối ưu ion kim loại, % Zn2+ 32 mg/L CaO 9-10 99-99,3 Cu2+, Zn2+, 100 mg/L CaO 7-11 99,37-99,6 Cr3+, Pb2+ Cu2+, Zn2+, 0,018/1,34/2, H2 S 3,0 100/>94/>92 Pb2+ 3 mM Cr3+ 5363 mg/L CaO và MgO 8,0 >99 Hg2+ 65,6/188 1,3-benzenediamido 4,7 và >99,9 mg/L ethanethiolate 6,4 CuEDTA 25/50/100 1,3,5- 3,0 99,0/99,3/99,6 mg/L hexahydrotriazinedithio carbamate Trong nhiều trường hợp, các kết tủa tạo ra có kích thước rất nhỏ. Để tách các hạt cặn lơ lửng này bằng phương pháp lắng, cần tăng kích thước của chúng nhờ sự tác động tương hỗ giữa các hạt phân tán liên kết thành tập hợp các hạt, nhằm làm tăng vận tốc lắng của chúng. Mặt khác, trong tự nhiên, tùy theo nguồn gốc xuất xứ cũng như bản chất hóa học, các hạt cặn lơ lửng đều mang điện tích âm hoặc dương. Ví dụ: các hydroxit sắt và nhôm đều mang điện tích dương, các hợp chất hữu cơ đều có điện tích âm.
Do đó, việc liên kết giữa các hạt được thực hiện gồm hai bước: (i) trung hòa điện tích của các hạt rắn; (ii) liên kết chúng với nhau. Quá trình trung hòa điện tích thường được gọi là đông tụ (coagulation) còn quá trình tạo thành các bông lớn hơn từ các hạt nhỏ gọi là quá trình keo tụ (flocculation). Các chất đông tụ thường dùng là các muối nhôm, sắt hoặc hỗn hợp của chúng. Việc lựa chọn chất đông tụ phụ thuộc vào tính chất hóa lý, chi phí, nồng độ tạp chất 7 luan an trong nước thải, pH và thành phần muối trong nước.
Thực tế, Al2(SO4)3 được dùng rộng rãi nhất do Al2(SO4)3 hòa tan tốt trong nước, chi phí thấp và hoạt động có hiệu quả cao trong khoảng pH = 5 – 7,5 [13]. Như vậy, các quá trình đông – keo tụ thường được thực hiện sau bước kết tủa nhằm tăng kích thước kết tủa giúp cho quá trình tách kết tủa ra khỏi nước thải bằng phương pháp lắng dễ dàng hơn. Có thể thấy, sử dụng phương pháp kết tủa hoặc kết tủa kết hợp với đông keo tụ cho phép loại bỏ ion kim loại với hiệu quả cao, thiết bị đơn giản, vận hành dễ dàng.