CHƯƠNG 1 GIỚI THIẾU Mi noodle là một trong những sản phẩm phô biến trên thé giới nhờ sự tiện dụng, mau mã và hình dang da dang, gia thanh hợp lý. Theo Hiệp Hội Mi Việt Nam, sản lượng mi sản xuất trên toàn cau thông ké được vào năm 2017 là 14. Sản lượng mio Việt Nam chiếm Khoảng | 4% sản lượng toan cau. Ngày nay, thé giới phải đổi mặt với những căn bệnh hiểm nghèo do nhiều yêu tổ của môi trường sống gây ra như 6 nhiễm nước, 6 nhiễm không khí và đặc biệt là ô nhiềm thực phẩm, Vì thể, con người quan tâm đến những thực phẩm không chỉ đạt an toàn vệ sinh mà con chữa những thành phần chức năng có lợi cho sức khóc.
Trong đó, chất xơ nối lên như một thành phân cần thiết để hồ trợ cho việc phòng ngừa và chữa trị một sé bệnh man tính. Chúng ta có thé điểm qua một sé vai trò nội bật của chất xơ như giảm thiểu nguy cơ phat triển các triệu chứng bệnh về tim mạch, cao huyết áp, tiêu đường: giảm nông độ Hpid máu và cải thiện chức năng của hệ miễn dich [ÍH2H3H4Hð]. Việc bố sung chất xơ vào trong thực phẩm, đặc biệt là các sản phẩm mi là biện pháp hữu hiệu để sản xuất ra những sản phẩm phố biển với người tiêu dùng và có chứa các thành phan tốt cho sức khỏe, Trên thé giới, các sản phẩm mì giảu xơ chủ yếu được sản xuất từ bột lúa mì không tách bỏ đi lớp vỏ cảm của hại lúa mì trong quá trình xay xat. Theo Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, sản lượng nhận khẩu lúa mi của nước ta trong năm 2017 đạt gân 4.2 triệu tân; trong đó gần một nửa là lúa mì có chất lượn g thap, thường sẽ được su dụng để làm thức ăn chăn nuôi; phân iia mì chất lượng cao sẽ được sử dụng dé sản xuất bột mi thương phẩm, Lớp cám lúa mì chiếm khoảng 15% khối lượng hại và sản lượng cảm lúa mì ở nước ta xấp xi 315 ngàn tấn mỗi năm.
Trong quá trình san xuất bột mì thương phẩm, lớp cám mì sẽ được loại bỏ va chủ yêu cũng được sử dụng làm thức ăn gia súc. Cam bia mì chứa rat nhiều các chat định dưỡng cân thiệt cho cơ thể như chat xơ, vitamin và khoảng chất nhưng chúng ta van chưa tận dụng được nguồn phụ phẩm này dé lam nguyễn phụ liệu chế biến thực phẩm cho con người, Dựa vào tình bình thục té trong nước cũng như những lợi ich mà chat xơ mang lại cho sức khỏe con người, chúng tôi thực biện dé tài “Sử dụng cảm lúa mi thay thé một phân bột mì rong sản xuất mi noodle gidu xơ”. Hy vọng kết quả nghiền cứu nảy sẽ là tiên dé cho những nghiên cứu chuyên sấu tiếp theo để khai thác hợp ly hơn nữa nguồn phụ phầm cam lúa mi sẵn có và rẻ tiên trong nước, CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2.1 Giới thiệu Lúa mì (Tên khoa hoc: Triticum aestivum) là cây lương thực thuộc nhóm Hòa Thảo đã thuần dưỡng từ khu vực Levant (phía Đông Dia Trung Hải) va được gieo trồng rộng rãi ở khắp nơi trên thế giới. Tùy thuộc vào mùa gieo trồng, thành phân hóa học, tính chất cơ lý hay màu sắc mà lúa mì sẽ được phân loại theo những phương pháp khác nhau.
Hiện nay, lúa mì là cây lương thực cho sản lượng hàng đầu và đóng vai trò quan trọng trong ngành lương thực thực phẩm thế giới. Sản lượng lúa mì sản xuất trên toàn cầu theo số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp Hoa Ky (United States Department of Agriculture - USDA) trong niên vụ 2017-2018 đạt đến 758. Việt Nam không trồng được lúa mì do điều kiện khí hậu không phù hợp. Theo báo cáo của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, sản lượng lúa mì nhập khâu ở nước ta từ năm 2013 đến nay tăng dan qua các năm, trong đó năm 2017 nước ta đã nhập khâu khoảng 4.2 triệu tan lúa mi.
Theo dự báo, lượng lúa mì nhập khẩu ở nước ta sẽ tiếp tục tăng cao hơn trong những niên vụ tiếp theo. Hạt lúa mì bao gém các lớp cám giàu chất xo, nội nhũ giàu tinh bột và mam giau chat béo. Cac hop chat dinh dưỡng, đặc biệt là những vi chất đinh dưỡng, các chất có hoạt tính sinh học và chất xơ tập trung chủ yếu trong mầm và cám của hạt lúa mì [6]. Cau tạo của hạt lúa mì được thé hiện ở Hình 2.
Nếp gap Rau (Crease) (Brush) Brush Nội nhũ 0n 66s+e—— Lớp Aleurone (Endosperm) panne S| Lớp Hyaline Lớp áo hat (testa) Biu i , — Tếbàoống - ; Lớp vô trong ; x (Scutellum) Mam Té bao doc (inner pericarp) Phôito Lớp vỏ ngoài (Embryonic axis) (outer pericarp) Hình 2.1 Cấu tạo của hạt lúa mì [7] Mam lúa mi (wheat germ) chiếm từ 2.5% khối lượng hạt. Mầm bao gồm phôi và bìu. Bìu được xem là bộ phận dự trữ dinh dưỡng cho hạt lúa mì. Mầm chứa 25% protein, 18% đường và 16% chất béo.
Các loại đường chủ yếu là sucrose và raffinose. Mam không chứa tinh bột nhưng giàu vitamin B. Nó cũng chứa nhiều enzyme [8]. Bên cạnh đó, mam lúa mi cũng chứa một lượng khoáng xấp x1 4.
Nội nhũ lúa mì (wheat endosperm) chiếm khoảng 80-85% khối lượng hạt, là thành phần chính của hạt và chứa một lượng lớn carbohydrate (thành phân chính là tinh bột) chiếm khoảng 82%, protein chiếm 13% và chất béo chiếm 1. Ham lượng chất khoáng và chất xơ trong nội nhũ tương đối thấp và chiếm tỉ lệ lần lượt là 0. Nội nhũ lúa mi bao gồm hỗn hợp tinh bột và protein có quan hệ mật thiết với nhau. Những protein này hiện diện như những hạt rời rạc và xen kẽ.
Có nhiều protein có mặt trong nội nhũ lúa mì nhưng chỉ có 4 nhóm protein chính bao gồm gladin, glutenin, albumin và globulin [10]. Cám lúa mi (wheat bran) chiếm khoảng 13-17% khối lượng hạt. Chiém hơn phân nửa khối lượng cám lúa mì là thành phần chất xơ (53%). Protein và carbohydrate cùng chiếm xap xi 16% so với lượng chất khô của cám lúa mì.
Bên cạnh đó, hàm lượng chất khoáng cũng chiếm tỉ lệ khá cao (7. Hai lớp bên ngoài của hat (pericarp va seed coat) được tạo thành bởi những tế bao trống và là các tế bào chết. Những tế bào bên trong của lớp cám lúa mì tức là lớp aleurone, chứa day các protoplast. Điều này giải thích hàm lượng protein và carbohydrate trong cám lúa mì cao hon so với trong toàn bộ hat lúa mi [9].
- Lớp vỏ (pericarp) bao gồm các tế bào trung gian, tế bao chéo va tế bào ống. Lớp vỏ chiếm khoảng 5% khối lượng hạt. Nó bao gồm khoảng 20% cellulose, 6% protein, 2% tro và 0. Nó cũng giàu xylan và chất xơ không hòa tan [11].
Hầu hết các mô của lớp vỏ đều có ở thành tế bào gỗ. Lớp trên cùng của lớp vỏ được gọi là lớp biểu bì bên ngoài. Nó day 15-20um và bao gồm các tế bào dài và hẹp được sắp xếp luân phiên [12]. - Lớp áo hạt (testa) chiếm khoảng 1% khối lượng hạt và được cầu tạo chủ yếu từ arabinoxylan và lignin.
Tỷ lệ cellulose của lớp áo hạt thấp hơn so với lớp vỏ hạt [11]. Lớp áo hat chứa gan như tất cả các alkylresorcinol hat [8], một lớp chất béo, các hợp chat phenolic có kha năng chéng oxy hóa va chồng ung thư [13]. Lớp áo hạt có độ dày từ 5-Ñum. Lớp biểu bì dày khoảng 7um và kết hợp chặt chẽ với cả lớp vỏ hạt và lớp aleurone.
- Lớp aleurone là một lớp tương đối day, bao phủ cả nội nhũ tinh bột và mầm hạt. Lớp aleurone chứa phần lớn các chất có khả năng chống oxy hóa có trong hat lúa mì [14], đặc biệt là các acid phenolic [15], [16]. Lớp aleurone chiếm khoảng 7% lượng chat khô hạt lúa mì nhưng chứa phan lớn vitamin B và khoảng một nửa hàm lượng khoáng chất của hạt [17]. So với các lớp ngoại vi khác, lớp aleurone có hàm lượng protein cao với thành phần các acid amin cân đối (đặc biệt là tỉ lệ lysine cao hơn) so với các protein nội nhũ [15][18].
Lớp aleurone cung cấp 80% niacin, 60% vitamin Bó va 32% thiamine trong toàn bộ hạt lúa mi [12].2 Thành phan hóa học Quá trình xay xát hạt lúa mì thành bột mì liên quan đến việc tách cám ra khỏi nội nhũ. Trong sản xuất công nghiệp thường sử dụng máy nghiền con lăn để thu nhận bột mì. Trước khi xay xát, các hạt lúa mì sẽ được phun nước để đạt độ âm xấp xỉ 15% [19] và sau đó được chuyền vào thùng ủ. Thời gian ủ phụ thuộc vào độ cứng của lúa mì.
Trong quá trình xử lý nay, lớp vỏ hạt và mầm của hạt hap thu một lượng nước va trở nên mềm hơn dé chuẩn bị cho quá trình tách ra khỏi nội nhũ. Điều kiện này cũng ngăn ngừa hiện tượng cám vỡ trong quá trình tách từ nội nhũ. Trong máy nghiền con lăn, các hạt lúa mì được dua qua các cuộn kim loại dạng sóng quay ngược nhau nơi mà các hạt bị phá vỡ còn nội nhũ và mầm được lay ra khỏi lớp vỏ hạt [20]. Cám được coi là sản phẩm phụ quan trọng từ quá trình xay xát.
Trên thế giới, có khoảng 90% lượng cám sinh ra được su dụng làm thức ăn chăn nuôi trong khi chỉ 10% được sử dung trong ngành thực phẩm làm nguồn chat xơ cho một số loại bánh, thức ăn chiên và ngũ cốc ăn sáng [21]. Trong những năm gan đây, những nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều hơn đến cám lúa mì với những thành phân hóa học hữu ích cho sức khỏe của con người. Thành phần hóa học cơ bản của cám mì được thé hiện ở Bang 2.1 Thanh phan hóa học cơ ban cua cam lua mi [22][23][12] Thanh phan Hàm lượng (% khối lượng chat khô) Protein 15.1 Carbohydrate Kamal-Eldin và cộng sự (2009) đã phan tích hai mẫu cám lúa mì thương mại có xuất xứ từ các nước Bắc Au [23]. Hàm lượng chất xơ trong cám thay đối từ 40 đến 53% chất khô và hàm lượng tinh bột dao động từ 9 đến 25%.
Khoảng 55% chất xơ trong cám lúa mì là arabinoxylan, trong khi phan còn lại là cellulose (9-12%), lignin (3-5%), fructan (3-4%) và B-glucan liên kết hỗn hợp (2. Cám lúa mì cũng chứa khoảng 4-6% di & trisaccharide. Đây chủ yếu là sucrose và raffinose [24].2 Chất xơ Chất xơ là một thành phần phức tạp, nó thay đổi từ nguyên liệu này đến nguyên liệu khác. Có rất nhiều định nghĩa về chất xơ cũng như những tranh cải về những định nghĩa chất xơ.