Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Stress ở nhân viên công tác xã hội" được nghiên cứu sinh Vũ Thị Lụa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Bùi Thị Xuân Mai, thuộc chuyên ngành Tâm lí học (mã số: 62 31 04 01) tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2023.

Căng thẳng (stress) là một hiện tượng phổ biến trong đời sống xã hội hiện đại, gây ra những tổn hại về thể chất, cảm xúc và tâm lý khi vượt quá ngưỡng chịu đựng của cá nhân (Fricchione, 2016). Ngành công tác xã hội (CTXH) được xác định là một lĩnh vực nghề nghiệp có nhiều nguy cơ sức khỏe liên quan đến căng thẳng (Truter, 2017). Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) thường xuyên đối mặt với khối lượng công việc lớn, áp lực thời gian, tình trạng thiếu hụt nhân sự, đòi hỏi phức tạp từ phía đối tượng phục vụ, mối quan hệ công việc không thuận lợi và sự thiếu hụt hỗ trợ xã hội (Kim, Ji & Kao, 2011). Bên cạnh đó, NVCTXH chịu mức độ căng thẳng cao khi hỗ trợ các nhóm thân chủ gặp nhiều tổn thương như bệnh nhân tâm thần nặng, người có nguy cơ tự tử, nạn nhân bị bạo lực hoặc xâm hại (Craig & Sprang, 2010; Lawson & Myers, 2011). Tình trạng căng thẳng kéo dài dẫn tới suy giảm sức khỏe thể chất, gia tăng triệu chứng trầm cảm, giảm mức độ thỏa mãn nghề nghiệp và tăng tỷ lệ chuyển việc (Rovas, 2003; Cox & Steiner, 2013; Poulsen, 2014).

Tại Việt Nam, nghề CTXH đang ở giai đoạn hình thành và hoàn thiện sau khi Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2021 được Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2010. Tính chuyên nghiệp của nghề còn hạn chế, vị trí việc làm chưa ổn định và hệ thống hỗ trợ chưa đồng bộ, tạo thêm áp lực tâm lý cho người làm nghề. Mặc dù vấn đề stress đã được quan tâm nghiên cứu ở nhiều đối tượng khác nhau, các công trình khảo sát thực chứng về stress ở NVCTXH tại Việt Nam còn hạn chế. Đặc biệt, hướng nghiên cứu xác định cấu trúc các nhóm tác nhân gây stress nhằm xây dựng các nhóm chiến lược ứng phó tương ứng và thực nghiệm can thiệp hỗ trợ giảm stress cho NVCTXH chưa được khai thác đầy đủ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng mức độ stress, biểu hiện stress, tác nhân gây stress, biện pháp ứng phó và các yếu tố ảnh hưởng tới stress ở NVCTXH; trên cơ sở đó đề xuất và thực nghiệm biện pháp giúp NVCTXH giảm thiểu căng thẳng, góp phần nâng cao hiệu quả nghề nghiệp và chất lượng cuộc sống.

Luận án xác định và kiểm chứng 6 giả thuyết khoa học:

  1. Đa số NVCTXH có mức độ stress nhẹ.
  2. Các biểu hiện stress trên các nhóm khách thể là khác nhau.
  3. Có nhiều tác nhân gây stress cho NVCTXH, trong đó nhóm tác nhân từ yếu tố đặc điểm công việc gây stress cho NVCTXH ở mức cao nhất.
  4. NVCTXH sử dụng đa dạng các ứng phó với stress, trong đó nhóm ứng phó với yếu tố sức khỏe thể chất và nhóm ứng phó với yếu tố đặc điểm công việc được NVCTXH sử dụng có hiệu quả hơn cả.
  5. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới mức độ stress ở NVCTXH, trong đó yếu tố “thời gian làm việc nhà và việc cá nhân” ảnh hưởng tới mức độ stress mạnh nhất.
  6. Có thể giảm mức độ stress bằng biện pháp tổ chức tham vấn cho NVCTXH.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 4 nội dung:

  1. Tổng quan, hệ thống hóa và xây dựng cơ sở lý luận về stress ở NVCTXH.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng mức độ stress, biểu hiện, tác nhân, ứng phó và các yếu tố ảnh hưởng tới stress ở NVCTXH.
  3. Đề xuất các biện pháp hỗ trợ giảm stress cho NVCTXH.
  4. Thực nghiệm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của biện pháp tham vấn tâm lý hỗ trợ giảm stress cho NVCTXH.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mức độ stress, biểu hiện stress, tác nhân gây stress, ứng phó với stress và các yếu tố ảnh hưởng tới stress ở NVCTXH.
  • Khách thể nghiên cứu: Khách thể chính gồm 436 NVCTXH đang làm việc tại các cơ sở xã hội trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội ở 5 tỉnh, thành phố khu vực Đông Nam Bộ. Khách thể phụ gồm 20 cán bộ quản lý NVCTXH và cán bộ quản lý đào tạo ngành CTXH.
  • Phạm vi không gian (địa bàn): 5 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đông Nam Bộ gồm Thành phố Hồ Chí Minh (267 người), Bình Phước (71 người), Bà Rịa – Vũng Tàu (34 người), Đồng Nai (32 người) và Bình Dương (32 người).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập dữ liệu và thực nghiệm được tiến hành từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 12 năm 2020.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 mặt biểu hiện (thể chất, nhận thức, cảm xúc, hành vi), 5 nhóm tác nhân, 5 nhóm ứng phó và 6 yếu tố ảnh hưởng (tính lạc quan – bi quan, mức độ hài lòng với công việc, khí chất, chỗ dựa xã hội, thời gian làm việc, ý định thay đổi công việc).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 hướng tiếp cận chính:

Hướng nghiên cứu về mức độ và biểu hiện của stress

  • Nghiên cứu quốc tế: Johnson và Smith nghiên cứu mối liên hệ giữa điện não đồ với stress về mặt thể chất. Meclin (1981) chỉ ra sự khác biệt mức độ stress giữa các cá nhân phụ thuộc vào cường độ hệ thần kinh và các quá trình tâm lý (dẫn theo Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện, 1994). M. Ferreri (1997) phân tích các rối loạn lâm sàng, phản ứng thần kinh thể dịch do stress. Tsai, Fung và Chow (2006) sử dụng thang đo TSI của Fimian và Fastenu (1990) để khảo sát giáo viên mầm non, ghi nhận biểu hiện cảm xúc và mệt mỏi là phổ biến nhất. Mariammal, Amutha và Sornaraj phân tích tác động của môi trường làm việc đến tim mạch. Jayaratne, Cheesbro và Kravitz (1986) nghiên cứu mức độ kiệt sức ở 144 nhân viên tâm thần cộng đồng, 60 nhân viên phúc lợi trẻ em và 84 nhân viên dịch vụ gia đình. Cahill (1992), Anderson (2000), Kadushin (1992) phân tích các triệu chứng mệt mỏi, đau cơ, kiệt quệ cảm xúc, mất hứng thú làm việc ở NVCTXH. Nelson-Gardell và Harris (2003) nghiên cứu về căng thẳng sang chấn thứ phát ở nhân viên phúc lợi trẻ em; Dillenburger (2004) ghi nhận cảm giác tội lỗi và kém cỏi; Collins (2008) và Johnson và cộng sự (2005) chỉ ra NVCTXH chịu căng thẳng cao hơn nhiều nhóm ngành trợ giúp khác.
  • Nghiên cứu trong nước: Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện (1994) nghiên cứu phản ứng stress ở thanh thiếu niên qua các hành vi hung tính, thụ động. Tô Như Khuê (1980, 1995, 1997) nghiên cứu căng thẳng cảm xúc ở bộ đội và người lao động. Nguyễn Thành Khải (2001) khảo sát stress ở cán bộ quản lý. Đỗ Văn Đoạt (2013) nghiên cứu kỹ năng ứng phó stress ở sinh viên sư phạm. Đỗ Thị Lệ Hằng (2014) khảo sát 4 mặt biểu hiện stress ở học sinh trung học phổ thông. Phạm Thị Thanh Hương (2015) khảo sát stress ở vận động viên thể thao. Nguyễn Thị Thúy Dung (2016) khảo sát 132 cán bộ quản lý trường học. Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Liên Hương (2016) nghiên cứu trên 600 điều dưỡng Bệnh viện Việt Đức. Trịnh Viết Then (2016) khảo sát 635 giáo viên mầm non về 4 mặt biểu hiện stress. Phạm Ngọc Thanh, Nguyễn Thị Kim Ngọc, Mary Chambers, Phùng Khánh Lâm và Nguyễn Văn Vĩnh Châu (2019) dùng thang DASS khảo sát 601 nhân viên y tế tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP.HCM. Lê Chí An và cộng sự (2012) thuộc Dự án Cầu vồng biên soạn tài liệu quản lý stress cho nhân viên xã hội với 4 mặt dấu hiệu. Nguyễn Thị Ngọc (2014) khảo sát hội chứng kiệt sức nghề nghiệp ở NVCTXH tại TP.HCM. Vũ Thị Lụa và Lê Văn Nguyễn (2015) khảo sát biểu hiện stress của nhân viên xã hội tại TP.HCM.

Hướng nghiên cứu về tác nhân gây stress

  • Nghiên cứu quốc tế: Hans Selye đưa ra mô hình Hội chứng thích nghi chung (GAS). Syrington và cộng sự (1955) cùng Mason (1975) bổ sung vai trò nhận thức và khả năng kiểm soát sự kiện. Thomas Holmes và Richard Rahe (1967) xây dựng Thang đo sự kiện cuộc sống (SRE) gồm 43 sự kiện. Ximônốp (1970) nhấn mạnh sự thiếu hụt thông tin gây stress cảm xúc. John Locker chỉ ra 6 nhóm nguyên nhân ở nhà quản lý. Fernet và cộng sự (2012) phân loại 5 khía cạnh công việc gây căng thẳng (xung đột vai trò, quá tải vai trò, mơ hồ vai trò, thiếu vai trò). Magnavita và cộng sự (2020) nghiên cứu sự mất cân bằng giữa nỗ lực và phần thưởng ở bác sĩ. Courage (2004), Himle và cộng sự (2008), Walonick (2020), Collings và Murray (1996), Siegrist (1986), Dane (2000), McLean và Andrew (2002), Dollard và cộng sự (2003), Storey và Billingham (2001), Lloyd và cộng sự (2002), Regehr và cộng sự (2004), Whitaker và cộng sự (2006), Earle và cộng sự (2008), Hiệp hội NVCTXH Mỹ (2008), Kim và Stoner (2008), Kim, Ji và Kao (2011), Rita Raudeliunaite và Giedre Volff (2018) đều chỉ ra các tác nhân đặc thù ở NVCTXH: quá tải công việc, thân chủ thách thức, nguy cơ bạo lực, thu nhập thấp, thiếu hỗ trợ giám sát, thủ tục hành chính phức tạp.
  • Nghiên cứu trong nước: Tô Như Khuê (1976, 1995), Đặng Phương Kiệt (2001), Nguyễn Thành Khải (2001), Phạm Mạnh Hà (2011), Trịnh Viết Then (2016), Nguyễn Thị Thúy Dung (2016), Lê Chí An và cộng sự (2012), Vũ Thị Lụa (2017) khảo sát các nhóm nguyên nhân từ công việc, quan hệ, kinh tế và môi trường.

Hướng nghiên cứu về ứng phó với stress

  • Nghiên cứu quốc tế: Lazarus và Folkman (1984) phân loại 2 kiểu ứng phó: tập trung vào cảm xúc và tập trung vào giải quyết vấn đề. Carver và Scheiner (1989) phát triển thang đo COPE với 3 nhóm chiến lược (vấn đề, cảm xúc, không tích cực). Endler và Parker (1990), Avero và cộng sự (1997) xây dựng Thang đo CISS. Oláh (1995) đưa ra mô hình đồng hóa, thích nghi, lảng tránh. Bourne và Garano (2003) phân loại 4 nhóm chiến lược tích cực (thể chất, cảm xúc, nhận thức, triết lý/tâm linh). Kumarmahi (2007) xác định 3 bước ứng phó. Shannon và Saleebey (1980), Um và Harrison (1998), Anderson (2000), Storey và cộng sự (2001), Coffey và cộng sự (2004), Dillenburger (2004), Collins (2008), Ntombenhle Brenda Moyane (2016) khảo sát các phương thức giải tỏa căng thẳng ở NVCTXH.
  • Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Thành Khải (2001), Trịnh Viết Then (2016), Nguyễn Thị Thúy Dung (2016), Phạm Thị Hằng và cộng sự (2019), Lê Chí An và cộng sự (2012), Vũ Thị Lụa (2016) khảo sát thực trạng ứng phó ở nhiều nhóm nghề nghiệp.

Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án

Các nghiên cứu trước đây về NVCTXH tại Việt Nam chủ yếu dừng lại ở mức khảo sát mô tả một số khía cạnh riêng lẻ hoặc chỉ tiếp cận ở góc độ lý luận. Luận án đã xác lập vị trí nghiên cứu bằng việc xây dựng hệ thống tác nhân và ứng phó có cấu trúc tương ứng theo 5 nhóm cụ thể, đồng thời thực hiện kiểm chứng thực nghiệm biện pháp tham vấn tâm lý nhằm hạ giảm mức độ stress cho NVCTXH.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm cơ bản

Luận án tiếp cận khái niệm stress dựa trên 5 hướng lý thuyết trong tâm lý học và sinh lý học:

  1. Tiếp cận đáp ứng sinh học: Walter Cannon (phản ứng chống trả hoặc bỏ chạy) và Hans Selye (Hội chứng thích nghi chung - GAS qua 3 giai đoạn: báo động, kháng cự, kiệt quệ).
  2. Tiếp cận sự kiện môi trường: Holroyd (1979), Bruce Singh và Sidney Bloch (1997), Meyer, Holmes và Rahe (1967).
  3. Tiếp cận nhận thức – hành vi: Lazarus và Folkman (1984), Gatchel và Baum (1983), Tô Như Khuê (1995).
  4. Tiếp cận trạng thái tâm lý: V. Zinchenko và B. Meshcheryakov (1997), T. Herbert (1997), Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1995), Nguyễn Thành Khải (2001).
  5. Tiếp cận phân tích hệ thống: Vũ Dũng (2008), M. Ferreri (1997), L. A. Kitaep-Smyk (1983), R. Lazarus (1999), C. Spielberger (2004), Nguyễn Khắc Viện (2001), Trần Anh Thụ (2004), Lê Chí An và cộng sự (2012).

Theo quan điểm hệ thống, tác giả xác định định nghĩa công tác: Stress ở NVCTXH là trạng thái mất cân bằng của cơ thể, biểu hiện ở mặt thể chất, nhận thức, cảm xúc và hành vi; xuất hiện khi NVCTXH đáp ứng lại những tác động từ hoạt động nghề CTXH, hoạt động hàng ngày, môi trường sống và làm việc của cá nhân hay từ chính bản thân họ.

Đặc điểm nghề nghiệp của NVCTXH được phân tích dựa trên 3 khía cạnh chính (Lê Chí An và cộng sự, 2012):

  • Tính mơ hồ trong nghề nghiệp: Mơ hồ về kỹ thuật can thiệp, vị trí nghề nghiệp chưa được khẳng định rõ ràng trong xã hội, sự khó khăn trong việc áp dụng các chuẩn mực đạo đức vào hoàn cảnh thực tế.
  • Tính chất công việc khó khăn và phức tạp: Áp lực thiếu thời gian, công việc quá tải, kỳ vọng cao vào sự thay đổi của thân chủ, sự thiếu hợp tác từ phía đối tượng.
  • Môi trường tác nghiệp nhiều rủi ro: Vị trí, quyền hạn chưa rõ ràng tại cơ sở; hệ thống kiểm huấn và an sinh xã hội chưa hoàn thiện; thiếu phối hợp liên ngành; nguy cơ cao về tai nạn nghề nghiệp; rào cản thủ tục hành chính và điều kiện làm việc cơ sở vật chất khó khăn.

Nguyên tắc phương pháp luận

  1. Nguyên tắc hoạt động: Nghiên cứu stress nảy sinh trực tiếp từ hoạt động hàng ngày và hoạt động nghề nghiệp của NVCTXH.
  2. Nguyên tắc hệ thống: Xem xét mức độ stress trong mối quan hệ hữu cơ với các biểu hiện, tác nhân và các yếu tố ảnh hưởng.
  3. Nguyên tắc phát triển: Nhìn nhận các trạng thái tâm lý có thể thay đổi và cải thiện thông qua các biện pháp can thiệp tâm lý phù hợp.
  4. Nguyên tắc liên ngành: Kết hợp góc nhìn của tâm lý học đại cương, tâm lý học xã hội, tâm lý học trị liệu, công tác xã hội và sinh lý học, trong đó tâm lý học giữ vai trò chủ đạo.

Phương pháp nghiên cứu và công cụ đo lường

Nghiên cứu được triển khai qua 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận về stress ở NVCTXH.
  • Giai đoạn 2: Khảo sát, phân tích thực trạng stress trên mẫu khách thể.
  • Giai đoạn 3: Đề xuất 4 biện pháp và tiến hành thực nghiệm biện pháp tham vấn tâm lý.

Hệ thống phương pháp và công cụ thu thập dữ liệu gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận: Phân tích, tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu học thuật.
  • Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia tâm lý học và công tác xã hội để hoàn thiện công cụ nghiên cứu.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu điều tra khảo sát biểu hiện (4 mặt), tác nhân (5 nhóm), ứng phó (5 nhóm) và các yếu tố ảnh hưởng.
  • Phương pháp trắc nghiệm tâm lý:
    • Thang đo DASS (Depression Anxiety Stress Scales) của Lovibond và Lovibond (1995), bản dịch của Ủy ban Anxiety/Panic Attack Sydney (2003) đã chuẩn hóa tại Việt Nam để đo mức độ stress theo 5 bậc (bình thường, nhẹ, vừa, nặng, rất nặng).
    • Trắc nghiệm đo khí chất.
    • Trắc nghiệm đo tính lạc quan – bi quan.
    • Thang đo hỗ trợ xã hội đa diện (MSPSS - Multidimensional Scale of Perceived Social Support).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Khảo sát trên 20 cán bộ quản lý cơ sở xã hội và cán bộ quản lý đào tạo ngành CTXH.
  • Phương pháp quan sát: Ghi nhận hành vi, biểu hiện của nhân viên trong môi trường làm việc.
  • Phương pháp thực nghiệm và mô tả chân dung: Thực nghiệm quy trình tham vấn tâm lý trên khách thể bị stress nặng/rất nặng và phân tích trường hợp điển hình.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các chỉ số thống kê mô tả (Điểm trung bình - ĐTB, Độ lệch chuẩn - ĐLC), kiểm định so sánh nhóm, phân tích tương quan Pearson, phân tích hồi quy đơn biến và hồi quy đa biến.
Nhóm biến số Công cụ / Thang đo Chỉ báo / Nội dung đo lường
Mức độ stress Thang đo DASS (Lovibond, 1995) 5 mức độ: Bình thường, Nhẹ, Vừa, Nặng, Rất nặng
Biểu hiện stress Bảng hỏi khảo sát biểu hiện 4 mặt: Thể chất, Nhận thức, Cảm xúc, Hành vi
Tác nhân gây stress Bảng hỏi khảo sát tác nhân 5 nhóm: Thời gian, Mối quan hệ, Tình huống, Sức khỏe thể chất - tinh thần, Đặc điểm công việc
Ứng phó với stress Bảng hỏi khảo sát ứng phó 5 nhóm ứng phó tương ứng với 5 nhóm tác nhân
Yếu tố ảnh hưởng Trắc nghiệm tâm lý & Bảng hỏi Lạc quan/bi quan, Hài lòng công việc, Khí chất, Chỗ dựa xã hội (MSPSS), Thời gian làm việc, Ý định đổi việc

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về stress ở nhân viên công tác xã hội

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về stress trên thế giới và tại Việt Nam theo 3 hướng: mức độ/biểu hiện, tác nhân và chiến lược ứng phó. Tác giả phân tích 5 cách tiếp cận khái niệm stress và làm rõ các khái niệm cốt lõi: stress, nhân viên công tác xã hội, stress ở nhân viên công tác xã hội.

Chương này xác lập cấu trúc lý luận của stress ở NVCTXH gồm 4 thành tố cơ bản:

  1. Mức độ stress: Phân loại thành 5 mức độ (bình thường, nhẹ, vừa, nặng, rất nặng) dựa trên thang đo chuẩn hóa.
  2. Biểu hiện stress: Biểu hiện toàn diện qua 4 phương diện: thể chất (rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, đau nhức cơ thể), nhận thức (giảm tập trung, hay quên, do dự), cảm xúc (lo âu, bực bội, chán nản, kiệt quệ cảm xúc) và hành vi (than phiền, khó ngồi yên, thay đổi thói quen sinh hoạt).
  3. Tác nhân gây stress: Cấu trúc thành 5 nhóm: (1) Nhóm tác nhân từ yếu tố thời gian; (2) Nhóm tác nhân từ yếu tố mối quan hệ; (3) Nhóm tác nhân từ yếu tố tình huống; (4) Nhóm tác nhân từ yếu tố sức khỏe thể chất và tinh thần; (5) Nhóm tác nhân từ đặc điểm công việc CTXH.
  4. Ứng phó với stress: Xác lập 5 nhóm chiến lược ứng phó tương ứng với 5 nhóm tác nhân nhằm giải tỏa áp lực và thiết lập lại sự cân bằng.

Chương 1 cũng làm rõ 6 yếu tố cá nhân và môi trường tác động đến mức độ stress của NVCTXH: tính lạc quan hay bi quan, mức độ hài lòng với công việc, loại hình khí chất, mức độ nhận được chỗ dựa xã hội, phân bổ quỹ thời gian làm việc (tại cơ sở, việc chuyên môn tại nhà, việc gia đình và cá nhân) và ý định thay đổi công việc.

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu stress ở nhân viên công tác xã hội

Chương 2 trình bày chi tiết về địa bàn nghiên cứu, cơ cấu mẫu khảo sát, quy trình 3 giai đoạn và hệ thống công cụ đo lường. Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 436 NVCTXH tại các cơ sở xã hội công lập trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội của 5 tỉnh, thành phố phía Nam:

Địa bàn khảo sát Số lượng khách thể (NVCTXH) Tỷ lệ cơ cấu (%)
Thành phố Hồ Chí Minh 267 61,24
Tỉnh Bình Phước 71 16,28
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 34 7,80
Tỉnh Đồng Nai 32 7,34
Tỉnh Bình Dương 32 7,34
Tổng cộng mẫu chính thức 436 100,00

Chương này trình bày cách quy đổi điểm trung bình đánh giá định tính cho các thang đo, quy trình khảo sát thử nghiệm (phiếu điều tra thử PL2) nhằm kiểm tra độ tin cậy trước khi ban hành phiếu chính thức (PL3), cùng quy trình phỏng vấn sâu 20 cán bộ quản lý và thiết kế can thiệp thực nghiệm tham vấn tâm lý cho các cá nhân có mức độ stress nặng và rất nặng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng về stress ở nhân viên công tác xã hội

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích số liệu thực nghiệm và điều tra xã hội học:

  • Thực trạng mức độ stress: Phần lớn NVCTXH có mức độ stress ở mức nhẹ. Phân tích so sánh nhóm cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ stress giữa các nhóm khách thể phân theo: tỉnh/thành phố, giới tính, trình độ chuyên môn, lĩnh vực công tác, dạng lao động, mức thu nhập và diện cư trú. Ngược lại, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ stress theo: thời gian công tác trong nghề, mức độ tham gia tập huấn CTXH, nhóm đối tượng thân chủ hỗ trợ và tình trạng hôn nhân.
  • Biểu hiện stress: NVCTXH bộc lộ biểu hiện stress ở cả 4 mặt, trong đó biểu hiện về mặt cảm xúc xuất hiện rõ nét nhất, tiếp theo lần lượt là biểu hiện về mặt nhận thức, hành vi và thể chất. Các mặt biểu hiện có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê với mức độ stress tổng thể.
  • Tác nhân gây stress: Trong 5 nhóm tác nhân được khảo sát, nhóm tác nhân bắt nguồn từ đặc điểm công việc CTXH gây ra mức độ căng thẳng cao nhất cho nhân viên.
  • Ứng phó với stress: NVCTXH sử dụng nhiều biện pháp ứng phó khác nhau; trong đó 2 nhóm ứng phó được sử dụng và đem lại hiệu quả cao nhất là nhóm ứng phó với yếu tố sức khỏe thể chất và nhóm ứng phó với yếu tố đặc điểm công việc.
  • Các yếu tố ảnh hưởng:
    • Phân tích hồi quy đơn biến: Yếu tố có mức độ tác động mạnh nhất đến mức độ stress ở NVCTXH là "thời gian làm việc nhà và việc cá nhân", tiếp theo sau là chỗ dựa xã hội, tính lạc quan hay bi quan, ý định thay đổi công việc, đặc điểm khí chất và mức độ hài lòng với nghề nghiệp; yếu tố "thời gian làm việc nghề nghiệp ở nhà" có mức độ tác động thấp nhất.
    • Phân tích hồi quy đa biến: Mô hình kết hợp đồng thời tất cả các yếu tố trên có khả năng giải thích cao nhất sự biến thiên của mức độ stress ở NVCTXH.
  • Kết quả thực nghiệm can thiệp tham vấn:
    • Biện pháp tham vấn tâm lý được tổ chức thử nghiệm trên những NVCTXH rơi vào trạng thái stress nặng và rất nặng.
    • Kết quả kiểm định trước và sau can thiệp cho thấy có sự chuyển biến tích cực: nhận thức của nhân viên về các tình huống gây stress và cách đánh giá tình huống thay đổi rõ rệt; hiểu biết và kỹ năng lựa chọn chiến lược ứng phó được nâng cao; mức độ stress của khách thể giảm rõ rệt sau quá trình tham vấn. Phân tích trường hợp điển hình đã minh họa chi tiết tiến trình thay đổi tâm lý của đối tượng tham gia.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung khung lý luận về stress ở NVCTXH: xác lập định nghĩa công tác; phân loại 5 mức độ stress; làm rõ 4 mặt biểu hiện (thể chất, nhận thức, cảm xúc, hành vi).
  2. Xây dựng mô hình cấu trúc phân loại 5 nhóm tác nhân gây stress đặc thù (thời gian, quan hệ, tình huống, sức khỏe thể chất - tinh thần, đặc điểm công việc) đi đôi với 5 nhóm chiến lược ứng phó tương ứng.
  3. Xác định cơ chế tác động của 6 yếu tố tâm lý - xã hội (lạc quan/bi quan, sự hài lòng công việc, khí chất, chỗ dựa xã hội, phân bổ thời gian, ý định chuyển việc) đến mức độ stress của người làm công tác xã hội tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm quy mô trên 436 NVCTXH tại 5 tỉnh/thành phố khu vực Đông Nam Bộ, khẳng định thực trạng stress ở nhóm khách thể này chủ yếu ở mức độ nhẹ, đồng thời xác định các nhóm nhân khẩu học có nguy cơ chịu stress cao (theo thâm niên, tập huấn, nhóm thân chủ, tình trạng hôn nhân).
  2. Khẳng định nhóm tác nhân từ đặc điểm nghề nghiệp là nguyên nhân gây stress lớn nhất, và "thời gian làm việc nhà và việc cá nhân" là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ stress.
  3. Đề xuất 4 nhóm giải pháp giảm stress cho NVCTXH và chứng minh trên thực nghiệm tính khả thi, hiệu quả của biện pháp tham vấn tâm lý cá nhân đối với NVCTXH bị stress nặng và rất nặng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Biện pháp tham vấn tâm lý: Tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý định kỳ tại các cơ sở xã hội để hỗ trợ nhân viên giải tỏa các xung đột nhận thức, kiểm soát cảm xúc tiêu cực và rèn luyện kỹ năng ứng phó.
  • Tập huấn và đào tạo liên tục: Nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng giải quyết tình huống và kỹ năng quản lý thời gian nhằm giảm bớt tính mơ hồ và áp lực công việc.
  • Xây dựng môi trường làm việc và mạng lưới hỗ trợ: Củng cố hệ thống kiểm huấn/giám sát chuyên môn tại cơ sở; xây dựng chỗ dựa xã hội từ đồng nghiệp, gia đình và lãnh đạo.
  • Hoàn thiện cơ chế chính sách: Đề xuất các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện văn bản quy định chức danh, ngạch bậc, chế độ đãi ngộ, phụ cấp độc hại và trang bị điều kiện làm việc an toàn cho NVCTXH.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi mẫu và địa bàn: Nghiên cứu được giới hạn thực hiện tại các cơ sở xã hội công lập trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội ở 5 tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đông Nam Bộ, chưa mở rộng sang các cơ sở ngoài công lập, các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc các vùng địa lý khác trên toàn quốc.
  • Hạn chế về nội dung khảo sát: Đề tài tập trung vào 6 yếu tố ảnh hưởng cụ thể; chưa xem xét sâu các biến số môi trường vĩ mô khác như văn hóa tổ chức chuyên biệt hay sự biến động kinh tế - xã hội.
  • Hạn chế về quy mô thực nghiệm: Quá trình thực nghiệm can thiệp chỉ mới thử nghiệm một biện pháp chuyên biệt là tham vấn tâm lý trên nhóm khách thể có mức độ stress nặng và rất nặng, chưa tiến hành thực nghiệm đồng thời cả 4 biện pháp đã đề xuất trên diện rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn khảo sát ra các khu vực miền Bắc và miền Trung; khảo sát so sánh giữa NVCTXH trong khu vực công và khu vực tư; thử nghiệm các mô hình can thiệp nhóm, mô hình kiểm huấn lâm sàng và các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần nghề nghiệp dài hạn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo trong các chuyên ngành Tâm lý học (Tâm lý học lao động, Tâm lý học lâm sàng, Tâm lý học xã hội) và ngành Công tác xã hội. Cung cấp khung lý thuyết hệ thống, bộ công cụ khảo sát biểu hiện - tác nhân - ứng phó, cùng hệ thống trắc nghiệm tâm lý chuẩn hóa (DASS, MSPSS, khí chất, tính lạc quan).
  • Đối với cán bộ quản lý cơ sở xã hội: Cung cấp căn cứ thực tiễn để sắp xếp phân bổ khối lượng công việc, xây dựng quy chế làm việc, thiết lập hệ thống kiểm huấn hỗ trợ chuyên môn và tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khỏe tinh thần cho nhân viên.
  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cứ liệu khoa học để hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, chính sách đãi ngộ và hệ thống an sinh xã hội đối với đội ngũ người làm công tác xã hội tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức độ stress phổ biến ở nhân viên công tác xã hội trong nghiên cứu này là mức độ nào?

Theo kết quả khảo sát bằng thang đo DASS trên 436 NVCTXH tại khu vực Đông Nam Bộ, đa số NVCTXH có mức độ stress ở mức nhẹ. Kết quả này phù hợp với giả thuyết khoa học số 1 mà đề tài đã đặt ra.

2. Mặt biểu hiện nào xuất hiện rõ nét nhất khi nhân viên công tác xã hội bị stress?

Trong 4 phương diện biểu hiện (thể chất, nhận thức, cảm xúc và hành vi), NVCTXH bộc lộ biểu hiện về mặt cảm xúc rõ nét nhất, sau đó lần lượt đến các biểu hiện về nhận thức, hành vi và thể chất.

3. Nhóm tác nhân nào gây stress nhiều nhất và nhóm ứng phó nào được sử dụng hiệu quả nhất?

Nhóm tác nhân gây stress nhiều nhất cho NVCTXH là nhóm tác nhân bắt nguồn từ đặc điểm công việc CTXH. Về phương diện ứng phó, NVCTXH sử dụng hiệu quả nhất 2 nhóm: nhóm ứng phó với yếu tố sức khỏe thể chất và nhóm ứng phó với yếu tố đặc điểm công việc.

4. Yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ stress của nhân viên công tác xã hội?

Kết quả phân tích hồi quy đơn biến chỉ ra rằng "thời gian làm việc nhà và việc cá nhân" là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ stress ở NVCTXH, kế đến là chỗ dựa xã hội, tính lạc quan – bi quan, ý định thay đổi công việc, khí chất và sự hài lòng nghề nghiệp; yếu tố thời gian làm việc nghề nghiệp ở nhà có mức độ ảnh hưởng thấp nhất.

5. Biện pháp can thiệp thực nghiệm nào đã được kiểm chứng hiệu quả trong luận án?

Tác giả đã tiến hành thực nghiệm biện pháp tham vấn tâm lý cho những NVCTXH rơi vào trạng thái stress nặng và rất nặng. Kết quả đo lường trước và sau tham vấn chứng minh biện pháp này giúp nhân viên thay đổi nhận thức về tình huống gây căng thẳng, nâng cao kỹ năng ứng phó và giảm rõ rệt mức độ stress.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Lụa đã giải quyết mục tiêu nghiên cứu thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng stress ở 436 nhân viên công tác xã hội tại khu vực Đông Nam Bộ. Nghiên cứu xác định đa số nhân viên có mức độ stress nhẹ, biểu hiện cảm xúc là rõ nét nhất, đặc điểm công việc là tác nhân gây căng thẳng hàng đầu và thời gian làm việc nhà/việc cá nhân có ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ stress. Kết quả thực nghiệm khẳng định biện pháp tham vấn tâm lý có hiệu quả trong việc hỗ trợ hạ giảm mức độ stress cho nhân viên. Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học cho công tác đào tạo, quản lý nhân sự và hoạch định chính sách an sinh xã hội đối với nghề công tác xã hội tại Việt Nam.