Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1.1 Bản chất di truyền của tính trạng Cũng như các giống vật nuôi khác, giống gà được hình thành gắn liền với sự tác động của môi trường sinh thái, điều kiện kinh tế kỹ thuật của xã hội. Hay nói cách khác, ngoài các yếu tố di truyền, tác động của con người, thì các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, mùa vụ. có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các đặc tính sinh trưởng, phát dục, sinh sản của giống.
Tất cả các đặc điểm của giống như: các đặc tính sinh vật học, ngoại hình, tính năng sản xuất. đều là tính trạng di truyền số lượng và chất lượng. Các tính trạng chất lượng được quy định bằng một hay nhiều cặp gen có hiệu ứng lớn, chúng được di truyền tuân theo các định luật của Mendel và ít chịu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường; các tính trạng sản xuất được quy định bằng nhiều cặp gen có hiệu ứng nhỏ, chúng được di truyền cho đời sau theo các mức độ khác nhau, sự thể hiện của chúng ở đời sau chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh. Sự biểu hiện kiểu hình của các tính trạng số lượng chịu sự tác động rất lớn của yếu tố ngoại cảnh.
Mối liên hệ này được thể hiện trong biểu thức: P=G+E Trong đó: P: giá trị kiểu hình, là các giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể. G: giá trị kiểu gen E: sai lệch môi trường Nói cách khác: Trong những điều kiện môi trường nhất định thì các kiểu gen khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau. Trái lại, cùng một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác nhau. Nghĩa là các điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng có thể phát n 4 huy hoặc hạn chế các đặc tính di truyền của vật nuôi.
Thông qua việc điều khiển các yếu tố di truyền, môi trường ngoại cảnh tối ưu, bằng các biện pháp khoa học kỹ thuật hợp lý, con người sẽ không chỉ bồi dưỡng duy trì được các đặc tính của một phẩm chất giống mà còn tạo ra các giống mới theo những hướng sản xuất khác nhau. Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của một giống gà, nó có hệ số di truyền tương đối cao thể hiện ở đặc điểm trao đổi chất, kiểu hình của dòng, giống. Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng lớn sẽ cho khả năng sản xuất thịt cao, vỗ béo và giết thịt sớm hơn. Tốc độ sinh trưởng được thể hiện ở khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo (dài lườn, rộng ngực, dài đùi.
Để nâng cao năng lực sản xuất thịt của một giống gà nào đó, người ta thường cho lai giữa mái của giống đó với trống của một giống khác có tốc độ sinh trưởng lớn hơn. Năng lực tăng đàn của một giống gà được quyết định bởi khả năng sinh sản bao gồm: khả năng đẻ trứng, tỉ lệ trứng cho phôi, tỉ lệ ấp nở, tỉ lệ nuôi sống của gà. Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng ấp trứng của gà mái, nguồn thức ăn (với gà nuôi thả ). Sức sống và khả năng kháng bệnh: trong cơ thể gia cầm có hệ thống miễn dịch hoàn hảo gồm tủy xương, tuyến ức, hạch lâm ba, lách.
khi kháng nguyên vào cơ thể, cơ thể sẽ thông qua hệ thống đáp ứng miễn dịch sinh ra những cơ chế tiêu diệt kháng nguyên, khi cơ thể gia cầm khỏe mạnh thì khả năng đáp ứng miễn dịch cao, khả năng kháng bệnh tốt đây chính là yếu tố quan trọng giúp cho người chăn nuôi đạt hiệu quả cao. Đặc điểm về sinh trưởng di truyền và một số tính trạng sản xuất của gia cầm 1. Khả năng sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể, là sự tăng về chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật. Đồng thời sinh trưởng chính là sự tích luỹ n 5 dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể ( Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường 1992) [23].
Về mặt sinh học: Sinh trưởng là quá trình tổng hợp protein nên thường lấy tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Theo Johanson (1972) [7] thì cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật. Nhìn từ khía cạnh giải phẫu, sinh lý thì sự sinh trưởng của các mô cơ diễn ra theo sơ đồ sau: Hệ thống tiêu hoá nội tiết - hệ thống xương - hệ thống cơ bắp - mỡ Thực tế chăn nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của sự sinh trưởng thì thức ăn dinh dưỡng được dùng tối đa cho sự phát triển của xương, mô cơ, một phần rất ít lưu giữ cho cấu tạo của mỡ. Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng, nguồn dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ thống cơ xương, nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích luỹ dinh dưỡng để cấu tạo mỡ.R (1990) [46] thì Mozan (1927) định nghĩa: sinh trưởng là sự tổng hợp quá trình tăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt da, xương.
Tuy nhiên có khi tăng khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự phải là tăng các tế bào của mô cơ tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể. Tóm lại sinh trưởng phải trải qua 3 quá trình đó là: - Phân chia để tăng khối lượng tế bào. - Tăng thể tích tế bào. - Tăng thể tích giữa các tế bào.
Trong quá trình này thì sự phát triển của tế bào là chính, các đặc tính của các bộ phận trong cơ thể hình thành lên quá trình sinh trưởng là sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền của đời trước, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn thiện hay không hoàn thiện còn phụ thuộc vào sự tác động của môi trường. Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất từ: 42 - 45 % khối lượng cơ thể. Khối lượng cơ thể của con trống luôn lớn n 6 hơn con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và từng loại gia cầm) (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994) [20]. * Các giai đoạn sinh trưởng của gà Đối với gà, quá trình tích luỹ các chất thông qua quá trình trao đổi chất, là sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào và dịch thể trong mô bào ở giai đoạn phát triển đầu của phôi trên cơ sở tính di truyền.
Sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn dần của các mô, đó là sự tăng lên về kích thước của tế bào và được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn gà con và giai đoạn trưởng thành. + Giai đoạn gà con Giai đoạn này gà sinh trưởng rất nhanh do lượng tế bào tăng nhanh, một số bộ phận của cơ quan nội tạng còn chưa phát triển hoàn chỉnh như các men tiêu hoá trong hệ tiêu hoá, do vậy thức ăn giai đoạn này cần chú ý đến thức ăn dễ tiêu, vì thức ăn giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà. Quá trình thay lông cũng diễn ra trong cùng một giai đoạn này, nó làm thay đổi quá trình trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu, do đó cần chú ý đến hàm lượng của các chất dinh dưỡng và axit amin thiết yếu trong khẩu phần ăn. + Giai đoạn trưởng thành Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như đã phát triển hoàn thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục.
Quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng trong giai đoạn này một phần để duy trì cơ thể, một phần để tích luỹ mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn giai đoạn gà con. + Khối lượng cơ thể Ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của cơ thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định được sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độ tuổi. Đơn vị tính được bằng g/con hoặc kg/con. + Sinh trưởng tuyệt đối Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.
Sinh n 7 trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại. + Sinh trưởng tương đối Sinh trưởng tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng (thể tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình khảo sát so với thời điểm đầu khảo sát (TCVN - 40 - 77, 1997) [31]. Gà còn non có sinh trưởng tương đối cao sau đó giảm dần theo tuổi.
Sau giai đoạn trưởng thành là giai đoạn già cỗi, ở thời kỳ này khối lượng không tăng mà có chiều hướng giảm. Nếu vẫn có hiện tượng tăng khối lượng thì đây là do quá trình tích luỹ mỡ. Thời kỳ này xảy ra sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tuổi và điều kiện sống của con vật. Thời kỳ già cỗi được tính từ khi con vật ngừng sinh trưởng, khả năng sinh sản và mọi khả năng khác đều giảm (Lê Huy Liễu và cộng sự, 2004) [15].
Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị sinh trưởng của gia súc gia cầm nói chung.R, 1990 [46], đường cong sinh trưởng của gà có 4 đặc điểm chính gồm 4 pha: Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc nhanh sau khi nở Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao nhất Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành Đồ thị sinh trưởng tích luỹ biểu thị một cách đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng. Đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác nhau giữa các dòng, giống, giới tính (Kizetova H.K và cộng sự, 1991) [55]. Theo tác giả Trần Long, (1994) [16] khi nghiên cứu về đường cong sinh trưởng của các dòng V1, V3, V5 trong giống gà Hybro (HV85) cho thấy các dòng đều phát triển theo đúng quy luật sinh học.