Bé kÕ ho¹ch vµ ®Çu t− ViÖn khoa häc thèng kª B¸o c¸o tæng kÕt ®Ò tµi cÊp bé Nghiªn cøu n¨m gèc so s¸nh 1994 sang n¨m 2005 cña mét sè chØ tiªu trong thèng kª tµi kho¶n quèc gia Chñ nhiÖm ®Ò tµi: ks. bïi b¸ c−êng 6668 20/11/2007 hµ néi - 2007 MỤC LỤC Trang Lêi nãi ®Çu 2 PhÇn I Ph−¬ng ph¸p luËn tÝnh chuyÓn mét sè chØ tiªu 6 thuéc thèng kª Tµi kho¶n quèc gia tõ gi¸ thùc tÕ vÒ gi¸ so s¸nh n¨m gèc vµ tõ mét n¨m gèc sang mét n¨m gèc kh¸c 1 Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi các chỉ tiêu kinh tế 6 thuộc Tài khoản quốc gia giữa các năm gốc với nhau 2 Lý luận chung để chuyển đổi giá năm gốc và chuyển giá thực tế về 9 giá so sánh 2.1 Chuyển đổi giá năm gốc 10 2.2 Chuyển giá thực tế về giá so sánh 10 3 Phương pháp tính chuyển GDP từ giá thực tế về giá so sánh 12 3.1 Giới thiệu về bảng nguồn và sử dụng (S.2 Các ứng dụng của bảng nguồn và sử dụng 16 PhÇn II Thùc tr¹ng vÒ viÖc chuyÓn ®æi n¨m gèc so 17 s¸nh vµ tÝnh theo gi¸ so s¸nh ®èi víi mét sè chØ tiªu trong thèng kª tµi kho¶n quèc gia I Sơ lược về bảng giá cố định và chọn các năm gốc so sánh đối với 17 một số chỉ tiêu trong thống kê Tài khoản quốc gia 1 Năm gốc so sánh và bảng giá cố định 17 2 Bảng giá cố định năm 1994 18 II Thực trạng tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của hệ thống tài 20 khoản quốc gia theo giá so sánh năm 1994 1 Tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá so sánh 20 2 Tính chỉ tiêu GDP theo giá so sánh 21 III Ưu, nhược điểm của việc tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp thuộc 24 hệ thống tài khoản quốc gia hiện nay 1 Đối với khối áp dụng bảng giá cố định 1994 24 2 Đối với khối áp dụng chỉ số giá 26 PhÇn III §Ò xuÊt c¸c ph−¬ng ph¸p tÝnh c¸c chØ tiªu tµi 28 kho¶n quèc gia tõ gi¸ thùc tÕ vÒ gi¸ so s¸nh I Sử dụng bảng nguồn và sử dụng để tính các chỉ tiêu tài khoản quốc 28 gia về giá so sánh 1 Những vấn đề cơ bản khi sử dụng bảng SUT để tính chuyển các 28 chỉ tiêu tài khoản quốc gia về giá so sánh 2 Tính toán thử nghiệm về năm gốc 2000 qua bảng SUT của năm 42 2005 3 Một vài nhận xét trong tính toán thử nghiệm qua sử dụng SUT 47 II Áp dụng phương pháp giảm phát riêng rẽ cho từng ngành, từng 47 hoạt động và một số chỉ tiêu chủ yếu KÕt luËn vµ kiÕn nghÞ 62 1 Lêi nãi ®Çu Để tổng hợp các sản phẩm vật chất và dịch vụ khác nhau trong nền kinh tế thành các chỉ tiêu thuộc thống kê tài khoản quốc gia (TKQG) nói riêng, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nói chung cần phải dùng cùng một thước đo, đó là thước đo giá trị. Thước đo giá trị được biểu hiện bằng một lượng tiền (tệ), song “giá trị” này lại thay đổi theo thời gian do có sự biến động của giá cả. Vì vậy, giá so sánh của một năm chọn làm gốc được dùng để loại trừ ảnh hưởng của sự thay đổi về giá đối với các chỉ tiêu giá trị theo thời gian.
Giá so sánh là giá thực tế bình quân của năm chọn làm gốc, nhằm nghiên cứu sự thay đổi thuần về khối lượng và loại trừ sự biến động của yếu tố giá. Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của những thời kỳ khác nhau (có thể được tính theo tháng, quí hoặc năm) sẽ được tính theo giá của một năm gốc nào đó. Trên thế giới có ba phương pháp để tính chuyển các chỉ tiêu này từ giá thực tế của năm báo cáo về giá của năm gốc, đó là: - Phương pháp đánh giá trực tiếp từ lượng và giá theo từng loại sản phẩm của năm gốc (ở Việt Nam thường gọi là phương pháp áp dụng bảng giá cố định) - Phương pháp giảm phát - Phương pháp ngoại suy khối lượng Hiện nay, Tổng cục Thống kê đang dùng “Bảng giá cố định 1994”để tính các chỉ tiêu giá trị sản xuất của các ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; công nghiệp khai thác mỏ; công nghiệp chế biến và sản xuất, phân phối điện, nước, ga. Các ngành kinh tế cấp I còn lại dùng “phương pháp giảm phát”.
Việc áp dụng phương pháp nào để tính chuyển các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, nhất là chỉ tiêu giá trị sản xuất từ giá thực tế về giá so sánh của một năm gốc nào đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song quan trọng nhất là phụ thuộc vào sự phát triển của công tác thống kê nói chung, công tác thống kê sản xuất, thống kê giá và thống kê TKQG nói riêng. Hiện nay trên thế giới hầu hết các nước đều áp dụng “phương pháp giảm phát”. Ở Việt Nam trước những năm 1990 công tác thống kê giá cả 2 chưa phát triển đầy đủ, nhất là chưa xây dựng được một hệ thống chỉ số giá hoàn chỉnh để áp dụng phương pháp giảm phát, nên vẫn coi việc áp dụng bảng giá cố định là phương pháp chủ yếu. Song từ cuối thập niên 1990 đến nay, thống kê giá và chỉ số giá của nước ta đã từng bước được củng cố, hoàn thiện tạo tiền đề cho việc áp dụng phương pháp giảm phát để tính chuyển các chỉ tiêu giá trị từ giá thực tế về giá so sánh.
Đối với các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của một thời kỳ nhất định, đã được tính theo giá của một năm gốc nào đó, song khi nhận thấy cơ cấu kinh tế có nhiều biến động so với năm được chọn làm gốc, thì phải chuyển đổi năm gốc so sánh. Năm được chọn làm năm gốc để thay một năm gốc nào đó thường là năm có nền kinh tế phát triển ổn định. Từ khi ngành thống kê ra đời đến nay đã có 6 lần thay đổi năm gốc, đó là các năm 1958, 1961, 1970, 1982, 1989 và 1994. Sau gần 50 năm, với 6 lần thay đổi năm gốc so sánh bằng áp dụng các bảng giá cố định là chủ yếu để tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (phục vụ cho đánh giá tốc độ phát triển theo ngành, thành phần, loại hình kinh tế và của cả nền kinh tế); phương pháp dùng bảng giá cố định đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình, nhất là đã có những đóng góp to lớn trong việc quản lý, điều hành nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Để nghiên cứu và phân tích kinh tế vĩ mô nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu vẫn tiếp tục dùng bảng giá cố định như một phương pháp duy nhất để tính chuyển các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp về giá so sánh của năm gốc (cho dù năm gốc là năm 1994 hay một năm nào đó gần đây, ví dụ năm 2005) là không còn phù hợp; nhất là trong bối cảnh công tác thống kê giá và chỉ số giá của nước ta đã đáp ứng cho áp dụng phương pháp giảm phát để biên soạn một số chỉ tiêu của hệ thống TKQG. Do tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu, năm 2006 Lãnh đạo Tổng cục và Viện khoa học Thống kê quyết định giao cho vụ Hệ thống TKQG triển khai đề tài khoa học cấp tổng cục “Nghiên cứu đổi năm gốc so sánh 1994 sang năm gốc so sánh 2005 của một số chỉ tiêu thuộc thống kê tài khoản quốc gia” do cử nhân Bùi Bá Cường làm chủ nhiệm, cử nhân Nguyễn Thị Mai Hạnh làm thư ký cùng với sự tham gia của nhiều lãnh đạo, chuyên viên của Vụ Hệ thống TKQG, Vụ Thống kê Thương mại - Dịch vụ và Giá cả, Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng, Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản. 3 Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu, rà soát phương pháp và nguồn thông tin để tính chuyển các chỉ tiêu giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế từ giá thực tế sang giá so sánh năm gốc (năm gốc 1994 và 2005); tính chỉ tiêu GDP của cả nước theo phương pháp sản xuất và phương pháp sử dụng cuối cùng theo giá so sánh năm 2005. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, xây dựng phương pháp chuyển đổi năm gốc so sánh từ năm 1994 sang năm 2005.
Với mục tiêu trên, ban chủ nhiệm đã tập trung vào nghiên cứu các nội dung chính sau : 1. Nghiên cứu phương pháp luận tính chỉ tiêu GDP theo phương pháp sản xuất và phương pháp sử dụng cuối cùng, theo giá năm gốc 2005. Đánh giá thực trạng về phương pháp tính một số chỉ tiêu chủ yếu của tài khoản quốc gia theo giá năm gốc 1994. Rà soát nguồn thông tin, công cụ và các điều kiện để tính chuyển chỉ tiêu GDP theo năm gốc 2005 phù hợp với thông lệ Quốc tế và thực tế của Việt Nam.
Tính thử nghiệm chỉ tiêu GDP của năm 2004 và năm 2005 về giá năm gốc năm 2000 bằng phương pháp giảm phát và bảng nguồn và sử dụng (SUT). Sau một năm nghiên cứu, đề tài đã triển khai và hoàn thành 12 chuyên đề, 1 báo cáo tổng hợp và 1 báo cáo tóm tắt (danh mục sản phẩm đạt được trang 76-77). Nội dung và kết quả nghiên cứu đề tài được trình bày theo các phần sau: Phần I : Phương pháp luận tính chuyển một số chỉ tiêu thuộc thống kê TKQG từ giá thực tế về giá so sánh năm gốc và từ một năm gốc sang một năm gốc khác. Phần II : Thực trạng tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp theo giá so sánh thuộc thống kê TKQG hiện nay ở Việt Nam.
Phần III : Đề xuất các phương pháp tính các chỉ tiêu tài khoản quốc gia từ giá thực tế về giá so sánh. Kết luận và kiến nghị Đề tài khoa học này được kế thừa các kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp tổng cục “ Nghiên cứu vận dụng hệ thống chỉ số giá thay cho bảng giá cố định” do tiến sĩ Lê Mạnh Hùng làm chủ nhiệm, đã tham khảo nhiều tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến tính chuyển các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp từ giá thực tế về giá so sánh năm gốc.