Luận văn nghiên cứu sinh trưởng và tình hình sâu bệnh hại một số loài thực vật thuộc họ đậu fabaceae trồng tại mô hình vườn thực vật khoa lâm nghiệp

Tài liệu nghiên cứu Luận văn nghiên cứu sinh trưởng và tình hình sâu bệnh hại một số loài thực vật thuộc họ đậu, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm Nghiệp

Tác giả

Trần Quang Ngọc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

I. PHẦN I: MỞ ĐẦU

I.1. Mục tiêu nghiên cứu

I.2. Ý nghĩa của đề tài

I.2.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học

I.2.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

II. PHẦN II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

II.1. Một số nét chung

II.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

II.3. Nghiên cứu về xây dựng các vườn thực vật

II.4. Nghiên cứu về kỹ thuật trồng các loài cây bản địa

II.5. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

II.6. Những nghiên cứu về xây dựng vườn thực vật

II.7. Nghiên cứu về trồng cây bản địa

II.8. Khái quát một số đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu

II.9. Khái quát một số đặc điểm của 6 loài cây bản địa được chọn để nghiên cứu

II.10. Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus)

II.11. Sơ lược về mô hình trồng cây bản địa

III. PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

III.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

III.2. Địa điểm và thời gian tiến hành

III.3. Nội dung nghiên cứu

III.4. Phương pháp nghiên cứu

III.4.1. Phương pháp luận

III.4.2. Phương pháp nghiên cứu

IV. PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

IV.1. Phân lô cây trồng trong mô hình vườn thực vật

IV.2. Đánh giá sinh trưởng của 6 loài cây bản địa

IV.3. Sinh trưởng đường kính gốc của 6 loài cây bản địa

IV.4. Đặc điểm sinh trưởng chiều cao của 6 loài cây bản địa

IV.5. Đặc điểm sinh trưởng về đường kính tán lá của 6 loài cây bản địa trong họ Đậu

IV.6. Đặc điểm sinh trưởng lá của 6 loài cây bản địa trong họ Đậu

IV.7. Theo dõi sâu bệnh hại

IV.8. Đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình vườn thực vật

IV.8.1. Biện pháp dải lớp nilon không màu trắng xung quanh gốc cây

IV.8.2. Biện pháp xây dựng thêm hàng rào bảo vệ vườn thực vật

V. PHẦN V: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu sinh trưởng

Nghiên cứu tập trung vào đánh giá sinh trưởng của 6 loài cây thuộc họ Fabaceae tại vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp. Các chỉ số như đường kính gốc, chiều cao, và đường kính tán lá được theo dõi định kỳ. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tốc độ sinh trưởng giữa các loài, trong đó Giáng hươngLim xanh có tốc độ phát triển nhanh nhất. Điều này phản ánh khả năng thích nghi và tiềm năng phát triển của các loài cây này trong môi trường thực nghiệm.

1.1. Đường kính gốc

Đường kính gốc là chỉ số quan trọng để đánh giá sinh trưởng của cây. Kết quả cho thấy Cẩm laiSưa đỏ có đường kính gốc tăng trưởng ổn định, đạt trung bình 2.5 cm/năm. Điều này cho thấy khả năng thích nghi tốt của các loài này với điều kiện đất đai và khí hậu tại vườn thực vật.

1.2. Chiều cao

Chiều cao của cây được đo từ gốc đến đỉnh ngọn. Giáng hươngLim xanh có tốc độ tăng chiều cao nhanh nhất, đạt trung bình 1.2 m/năm. Điều này khẳng định tiềm năng phát triển của các loài cây này trong mô hình vườn thực vật.

II. Sâu bệnh hại

Nghiên cứu cũng tập trung vào đánh giá tình hình sâu bệnh hại trên các loài cây họ Fabaceae. Kết quả cho thấy Lim xẹtVàng anh là hai loài dễ bị tấn công bởi sâu bệnh nhất, đặc biệt là sâu đục thân và bệnh nấm lá. Các biện pháp phòng trừ như sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và cải thiện điều kiện chăm sóc đã được đề xuất để hạn chế thiệt hại.

2.1. Sâu đục thân

Sâu đục thân là loại sâu bệnh phổ biến nhất, gây thiệt hại nghiêm trọng đến sinh trưởng của cây. Lim xẹt là loài bị ảnh hưởng nặng nề nhất, với tỷ lệ cây bị nhiễm lên đến 30%. Các biện pháp phòng trừ như sử dụng thuốc trừ sâu và cải thiện điều kiện chăm sóc đã được áp dụng.

2.2. Bệnh nấm lá

Bệnh nấm lá xuất hiện chủ yếu vào mùa mưa, gây ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây. Vàng anh là loài dễ bị nhiễm bệnh nhất, với tỷ lệ lên đến 25%. Các biện pháp như phun thuốc trừ nấm và cải thiện thoát nước đã được đề xuất.

III. Bảo vệ thực vật và phát triển bền vững

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ thực vậtphát triển bền vững trong mô hình vườn thực vật. Các biện pháp như xây dựng hàng rào bảo vệ, sử dụng lớp phủ nilon quanh gốc cây, và tăng cường quản lý dịch hại đã được đề xuất. Những giải pháp này không chỉ bảo vệ các loài cây quý hiếm mà còn góp phần vào đa dạng sinh họcnông nghiệp bền vững.

3.1. Hàng rào bảo vệ

Hàng rào bảo vệ được xây dựng xung quanh vườn thực vật nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của động vật gây hại. Điều này giúp bảo vệ các loài cây quý hiếm và duy trì đa dạng sinh học trong khu vực.

3.2. Lớp phủ nilon

Lớp phủ nilon được sử dụng để giữ ẩm và ngăn chặn sự phát triển của cỏ dại quanh gốc cây. Biện pháp này giúp cải thiện điều kiện sinh trưởng của cây và giảm thiểu công chăm sóc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn nghiên cứu sinh trưởng và tình hình sâu bệnh hại một số loài thực vật thuộc họ đậu fabaceae trồng tại mô hình vườn thực vật khoa lâm nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Mô hình vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được lên kế hoạch và xây dựng vào tháng 03/2017 đến tháng 03/2018. Hiện tại đề tài đã được nghiệm thu và đang được sử dụng với những mục đích ban đầu đặt ra là bảo tồn các nguồn gen quý hiếm của các loài cây bản địa đang có mức độ nguy cấp cao và bên cạnh đó tạo nơi học tập và nghiên cứu cho sinh viên Khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên. Kết thúc ở giai đoạn đầu của việc xây dựng thành công 406 cây thuộc 25 loài cây bản địa khác nhau trong đó có các họ như: họ Thông tre (Podocarpaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Long não (Lauraceae) hay họ quả hai cánh (Dipterocarpaceae) [8]. Họ Đậu hay còn gọi họ Cánh bướm (danh pháp khoa học: Fabaceae, đồng nghĩa: Leguminosae,[8] Papilionaceae[8]) là một họ thực vật trong bộ Đậu.

Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và 19. Các loài đa dạng tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ Đậu (Faboideae), và chúng chiếm khoảng 9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá mầm thật sự. Các loài cây họ Đậu (Fabaceae) được đánh giá là họ có số lượng loài đang có mức độ nguy cấp cao nhiều nhất trong mô hình vườn thực, các loài cây họ Đậu (Fabaceae) có quan hệ mật thiết với nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của chúng. Các loại vi khuẩn này được biết đến như là vi khuẩn nốt rễ (Rhizobium), Rhizobium là một chi vi khuẩn Gram âm sống trong đất có vai trò cố định đạm.

Rhizobium hình thành một nhóm vi khuẩn cộng sinh cố định đạm sống trong rễ của các cây họ Đậu và Parasponia.Vi khuẩn này xâm chiếm tế bào rễ của cây tạo thành các nốt rễ; ở đây chúng biến đổi nitơ trong khí quyển thành ammoniac và sau đó cung cấp các hợp chất h 2 nitơ hữu cơ như glutamin hoặc ureide cho cây. Còn cây thì cung cấp các hợp chất hữu cơ cho vi khuẩn từ quá trình quang hợp.Các loài cây họ đậu cung cấp nơi ở và dinh dưỡng, còn vi khuẩn nốt rễ, trong vai trò của nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra một quan hệ cộng sinh. Mối quan hệ này không chỉ giúp tạo đạm cho cây họ đậu sử dụng mà còn cho cả các cây khác xung quanh, do đó có tác dụng cải tạo đất. Các loài cây thân gỗ họ Đậu (Fabaceae) có giá trị rất cao và thường khai thác thân cây và rễ nhằm mục đích làm đồ mỹ nghệ và đồ gia dụng cao cấp.

Vì giá trị của các loài cây họ Đậu (Fabaceae) đem lại cao nên việc khai thác của con người rất mạnh, đồng thời đẩy các loài thân gỗ họ Đậu (Fabaceae) đến mức nguy cấp tuyệt chủng cao vì vậy việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh trưởng và tình hình sâu bệnh hại một số loài thực vật thuộc họ Đậu (Fabaceae) trồng tại mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên ” nhằm đánh giá mức độ sinh trưởng của các loài cây họ Đậu (Fabaceae) nhân rộng mô hình chuyển vị các loài cây họ Đậu (Fabaceae) trong mô hình vườn thực vật Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được tình hình sinh trưởng của 6 loài cây họ Đậu (Fabaceae) trồng trong mô hình vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá tình hình sâu bệnh hại của của 6 loài cây họ Đậu (Fabaceae) trồng trong mô hình vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - Đề xuất được một số biện pháp nhằm tăng cường khả năng sinh trưởng của 6 loài cây họ Đậu (Fabaceae) trong mô hình vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1.

Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức đã học, hệ thống lại kiến thức trên lớp, bổ sung kiến thức chuyên môn và vận dụng vào thực tế sản xuất. h 3 - Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để phát triển mô hình vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Qua những đánh giá cụ thể về sinh trưởng chúng ta có thể tìm ra được các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến ngành Lâm nghiệp và phát triển các loài cây bản địa. - Làm cơ sở tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan.

h 4 PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Một số nét chung Điều tra sinh trưởng cây rừng nói chung và điều tra sinh trưởng các loài cây bản địa nói riêng là nội dung quan trọng, cần thiết trong khôi phục rừng và xây dựng các vườn thực vật nhằm lựa chọn các loài cây phù hợp cho từng khu vực để đưa các loài cây này vào công tác trồng rừng và làm giàu nguồn tài nguyên thực vật, do vậy việc xây dựng mô hình vườn thực vật từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Vườn thực vật là: là một nơi trồng cây cối, được chăm sóc tốt thường được trồng từng nhóm theo loại. Người ta cũng trồng ở đây các cây từ các nước khác, các vùng khí hậu khác nhau.

Các vườn thực vật thường được quản lý bởi các Trường Đại học, dùng nó làm cơ sở nghiên cứu khoa học. Các vườn thực vật loài cây bản địa hiện đang được chú trọng và xây dựng nhiều trên thế giới, cũng như Việt Nam không phải ngoại lệ, điều đó chứng minh con người ngày càng quan tâm đến thiên nhiên, quan tâm đến sự hài hòa của cuộc sống. Mô hình vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một ví dụ điển hình cho vườn thực vật bảo tồn các loài cây bản địa, đồng thời lồng ghép giúp sinh viên có nơi học tập và nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2.

Nghiên cứu về xây dựng các vườn thực vật Nhận thấy sự nguy cấp của sự đa dạng các loài thực vật trên thế giới, cùng với đó là trách nhiệm phải bảo tồn những loài cây quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng cao đồng thời có thể kết hợp tham quan giải trí và lồng ghép giáo dục về thiên nhiên thay đổi nhận thức và là cơ sở cho con người học tập, nghiên cứu, thư giãn nên trên thế giới con người đã xây dựng các vườn thực vật chuyển vị để góp phần bảo vệ nguồn gen của các loài thực vật. Hiện nay có khoảng 1800 vườn bách thảo tại 150 nước thuộc phần lớn tại các h 5 vùng có khí hậu ôn hòa. Trong đó có 400 vườn ở Châu Âu, 200 ở Bắc Mỹ, 150 ở Nga, và một số càng ngày càng tăng lên ở Đông Á [12]. Những vườn này lôi cuốn mỗi năm khoảng 150 triệu du khách.

Trong quá khứ, các vườn bách thảo trao đổi các cây cối qua việc ấn hành danh sách các hạt giống. Đó là một phương tiện để trao đổi không những các thực vật mà cả các thông tin giữa các vườn bách thảo với nhau. Ở Châu Âu, từ năm 1492 đã có vườn bách thảo Arboretum von Trsteno gần Dubrovnik Tổng diện tích của Arboretum là 28 hecta. Trong suốt 5 thế kỷ tồn tại, các yếu tố của thời kỳ Phục Hưng Baroque và Romanticism có thể được nhìn thấy trong kiến trúc cảnh quan.

Trên một số bậc thang bên cạnh cây trồng ở Địa Trung Hải như ô liu , cây sung hoặc cây có múi cũng có rất nhiều cây cọ , cây bạch đàn , cây laurel , cây xương rồng và các cây kỳ lạ khác [15]. Ngoài ra ở Ý vào năm 1544 tại Pisa của Luca Ghini, 1545 ở Padua của Johannes Baptista Montanus cũng như ở Firenze (1545) và Bologna (1568). Điển hình năm 1808 Vườn thực vật Jardim Botnico, ở Rio de Janeiro, Brazil với diện tích 240.000 m2 đây được xem là một trong hai khu vườn đẹp bậc nhất thế giới. Với khoảng 6500 loài thực vật, trong đó một số loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.

Hay là nằm trên đỉnh Dessert là khu vườn thực vật Kirstenbosch có thể không phải là vườn bách thảo cổ nhất nhưng lại là vườn lớn nhất thế giới. Ngự trị trên vùng đất rộng 35,6 hecta, ra đời từ năm 1913, vườn thực vật quốc gia Kirstenbosch của Nam Phi được thành lập cho mục đích bảo tồn hệ thực vật địa phương, khu vườn Kirstenbosch hiện sở hữu hơn 20. Được mở cửa từ năm 1910, vườn hoa Berlin-Dahlem được xem là một trong những địa điểm thu hút du lịch của đất nước này. Khu vườn rộng tới 43 hecta có hơn 43.000 loài thực vật khác nhau.

Nơi đây được coi như một ốc đảo xinh đẹp, yên bình, nhưng rực rỡ muôn sắc màu, khác biệt với sự bận rộn, hối hả thường ngày của cuộc sống ở thủ đô nước Đức. Được thành lập năm 1840 từ một vườn cây ngoại lai tại công viên Kew, vườn thực vật hoàng gia Kew. Bộ sưu tập của h 6 vườn bao gồm 30.000 loài thực vật sống khác nhau. Vườn thực vật Na Aina Kai, Mỹ khoảng 240 loài.

Và còn vườn thực vật đại học Hokkaido rộng hơn 13 hecta trồng khoảng 4000 loại thực vật được mở cửa vào cuối thế kỷ 19. Bên cạnh đó là rất nhiều vườn thực vật nổi tiếng, lưu giữ nhiều loài thực vật trên thế giới như: Vườn Butchart, British Columbia, Canada, Villa D’este, Italy, Villa Eprhussa de Rothchild, Pháp…xây dựng với mục đích bảo vệ các loài thực vật quý hiếm lồng ghép thăm quan giải trí cho con người. Ở Đức vườn bách thảo đầu tiên được thành lập ở Leipzig (1580), Jena (1586), Heidelberg (1593), Gießen (1609) hay Freiburg (1620), thường thuộc về phân khoa Y học là vườn dược thảo Vườn bách thảo Kiel là vườn bách thảo đầu tiên theo nghĩa hiện nay. Nó được hình thành bởi Johann Daniel Major vào năm 1669 tại Christian-Albrechts-Universität zu Kiel.

Ở Bồ Đào Nha vườn bách thảo đầu tiên do bá tước Grafen von Pombal thuộc Universität Coimbra xây vào năm 1772. Tại Châu Á, có vô vàn các vườn thực vật lớn nhỏ của các nước như: Trung Quốc có 152 vườn thực vật điển hình như là Vườn Thực Vật Bắc Kinh - Khu vườn được thành lập năm 1953 và hiện nay có diện tích 564. Chúng bao gồm 6.000 loài thực vật, bao gồm 2.000 loại cây và bụi rậm, 1.620 loài thực vật nhiệt đới và cận nhiệt đới và 500 loài hoa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu sinh trưởng và sâu bệnh hại cây họ đậu Fabaceae tại vườn thực vật khoa Lâm nghiệp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và các loại sâu bệnh ảnh hưởng đến cây họ đậu, một nhóm thực vật quan trọng trong nông nghiệp và sinh thái. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây mà còn chỉ ra các biện pháp quản lý sâu bệnh hiệu quả. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và những ai quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển cây trồng bền vững.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan đến thực vật và hoạt tính sinh học, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học một số loài thực vật thuộc chi kadsura và schisandra họ schisandraceae ở việt nam, nơi khám phá các loài thực vật khác trong cùng họ. Ngoài ra, tài liệu Luận án nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài nàng nàng callicarpa candicans và loài tử châu lá to callicarpa macrophylla ở việt nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về hoạt tính sinh học của các loài thực vật khác. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án nghiên cứu thành phần hóa học hoạt tính sinh học của loài thông nàng dacrycarpus imbricatus và pơ mu fokienia hodginsii, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các loài cây có giá trị sinh học cao. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và ứng dụng trong lĩnh vực nghiên cứu thực vật.