Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng tính chất gỗ và tính bất thụ của keo tam bội làm cơ sở cho chọn giống và trồng rừng

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, tính chất gỗ và tính bất thụ của keo tam bội, hỗ trợ chọn giống và trồng rừng hiệu quả.

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

193
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.2. Nghiên cứu cải thiện giống theo tính trạng sinh trưởng cho một số loài keo

1.3. Nghiên cứu cải thiện giống theo tính trạng tính chất gỗ cho một số loài keo

1.4. Nghiên cứu đặc điểm sinh sản của Keo tai tượng và Keo lá tràm

1.5. Nghiên cứu về cây tam bội trong lâm nghiệp

1.6. Nhận định chung

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Vật liệu nghiên cứu

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp luận

2.5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.5.2.1. Phương pháp nghiên cứu sinh trưởng và chất lượng thân cây
2.5.2.2. Phương pháp nghiên cứu tính chất vật lý và cơ lý gỗ
2.5.2.3. Phương pháp nghiên cứu tính bất thụ của keo tam bội
2.5.2.4. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm sinh trưởng và chất lượng thân cây của keo tam bội

3.2. Đặc điểm sinh trưởng của các dòng trong các khảo nghiệm ô 10 cây

3.3. Đặc điểm sinh trưởng của các dòng trong các khảo nghiệm ô 49 cây

3.4. Sinh trưởng của các dòng theo nhóm tổ hợp lai

3.5. Chất lượng thân cây của các dòng trong 2 khảo nghiệm

3.6. Tăng trưởng đường kính hàng tháng (Zd) và chỉ số diện tích lá (LAI) trong khảo nghiệm ô 49 cây tại Xuân Lộc

3.7. Tính chất gỗ của keo tam bội

3.7.1. Khối lượng riêng cơ bản của gỗ

3.7.2. Tỷ lệ gỗ lõi

3.7.3. Chiều dài sợi gỗ

3.7.4. Tổng độ co rút tuyến tính của gỗ

3.7.5. Độ bền uốn tĩnh (MOR) của gỗ

3.7.6. Mô-đun đàn hồi (MOE) của gỗ

3.8. Tính chất bất thụ của keo tam bội

3.8.1. Hình thái hoa

3.8.2. Mức độ ra hoa, đậu quả

3.8.3. Chất lượng hạt

3.8.4. Bất thụ tính đực và bất thụ tính cái

3.9. Khả năng phát triển của hậu thế của keo tam bội

3.9.1. Mức bội thể của hậu thế của dòng keo tam bội X201

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu sinh trưởng

Nghiên cứu sinh trưởng của keo tam bội tập trung vào việc đánh giá khả năng phát triển của các dòng keo trên ba vùng sinh thái khác nhau: Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Các chỉ tiêu chính bao gồm chiều cao, đường kính thân cây, và chỉ số diện tích lá (LAI). Kết quả cho thấy các dòng keo tam bội có sinh trưởng nhanh hơn so với các dòng nhị bội, đặc biệt là ở vùng Đông Nam Bộ. Điều này khẳng định tiềm năng của keo tam bội trong việc trồng rừng gỗ lớn.

1.1. Đặc điểm sinh trưởng

Các dòng keo tam bội được đánh giá qua các khảo nghiệm ô 10 cây và ô 49 cây. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tăng trưởng đường kínhchiều cao vút ngọn giữa các dòng. Dòng X201 và X102 nổi bật với khả năng sinh trưởng vượt trội, đạt chiều cao trung bình 15m sau 3 năm. Điều này cho thấy tiềm năng lớn của các dòng này trong việc trồng rừng sản xuất.

1.2. Khả năng thích ứng

Các dòng keo tam bội được đánh giá về khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu và đất đai khác nhau. Kết quả cho thấy các dòng này có khả năng thích ứng tốt ở cả ba vùng sinh thái, đặc biệt là ở vùng Đông Nam Bộ với điều kiện nhiệt đới ẩm. Điều này mở ra cơ hội mở rộng diện tích trồng rừng keo tam bội trên quy mô lớn.

II. Tính chất gỗ

Tính chất gỗ của keo tam bội được nghiên cứu để đánh giá chất lượng gỗ và khả năng ứng dụng trong công nghiệp. Các chỉ tiêu chính bao gồm khối lượng riêng cơ bản, tỷ lệ gỗ lõi, chiều dài sợi gỗ, và độ bền uốn tĩnh (MOR). Kết quả cho thấy gỗ keo tam bội có khối lượng riêng caosợi gỗ dài, phù hợp cho sản xuất gỗ ván và giấy.

2.1. Khối lượng riêng cơ bản

Khối lượng riêng cơ bản của gỗ keo tam bội được đo lường ở các độ cao khác nhau của thân cây. Kết quả cho thấy gỗ keo tam bội có khối lượng riêng trung bình 0.6 g/cm³, cao hơn so với gỗ keo nhị bội. Điều này cho thấy tiềm năng sử dụng gỗ keo tam bội trong các ứng dụng đòi hỏi độ bền cao.

2.2. Chiều dài sợi gỗ

Chiều dài sợi gỗ là một chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá chất lượng gỗ. Kết quả nghiên cứu cho thấy sợi gỗ keo tam bội có chiều dài trung bình 1.2mm, dài hơn so với sợi gỗ keo nhị bội. Điều này làm tăng giá trị của gỗ keo tam bội trong ngành công nghiệp giấy và gỗ ván.

III. Bất thụ keo tam bội

Bất thụ keo tam bội là một đặc điểm quan trọng giúp hạn chế nguy cơ xâm lấn của keo vào hệ sinh thái bản địa. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá mức độ ra hoa, đậu quả, và chất lượng hạt của các dòng keo tam bội. Kết quả cho thấy các dòng keo tam bội có khả năng sinh sản kém, với tỷ lệ đậu quả thấp và chất lượng hạt không ổn định.

3.1. Mức độ ra hoa và đậu quả

Các dòng keo tam bội được đánh giá về mức độ ra hoa và đậu quả. Kết quả cho thấy tỷ lệ đậu quả của các dòng này thấp hơn đáng kể so với các dòng nhị bội. Điều này khẳng định tính bất thụ của keo tam bội, giúp hạn chế nguy cơ xâm lấn vào hệ sinh thái bản địa.

3.2. Chất lượng hạt

Chất lượng hạt của keo tam bội được đánh giá qua tỷ lệ nảy mầm và sức sống của cây con. Kết quả cho thấy hạt keo tam bội có tỷ lệ nảy mầm thấp và sức sống yếu, điều này củng cố thêm tính bất thụ của các dòng keo tam bội.

IV. Chọn giống và trồng rừng

Chọn giốngtrồng rừng keo tam bội dựa trên các kết quả nghiên cứu về sinh trưởng, tính chất gỗ, và tính bất thụ. Các dòng keo tam bội có sinh trưởng nhanh, chất lượng gỗ tốt, và khả năng sinh sản kém được lựa chọn để đưa vào sản xuất. Quy trình trồng rừng được đề xuất dựa trên các đặc điểm sinh học và điều kiện sinh thái của từng vùng.

4.1. Quy trình trồng rừng

Quy trình trồng rừng keo tam bội được xây dựng dựa trên các đặc điểm sinh học và điều kiện sinh thái của từng vùng. Các yếu tố như mật độ trồng, chế độ chăm sóc, và phòng trừ sâu bệnh được đề xuất để đảm bảo hiệu quả kinh tế và bền vững.

4.2. Ứng dụng gỗ keo tam bội

Gỗ keo tam bội được đề xuất sử dụng trong các ngành công nghiệp giấy và gỗ ván nhờ vào chất lượng gỗ tốt và sợi gỗ dài. Điều này mở ra cơ hội mới cho việc phát triển ngành công nghiệp gỗ tại Việt Nam.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng tính chất gỗ và tính bất thụ của keo tam bội làm cơ sở cho chọn giống và trồng rừng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Chi keo (Acacia) có khoảng 1.300 phân bố trên toàn cầu, đã có trên 70 nước sử các loài keo như là loài ngoại lai cho mục đích phục hồi đất, cung cấp gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ (Turnbull và cộng sự, 1998) [128]. Ở các quốc gia thuộc khu vực nhiệt đới, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á, các loài keo cho gỗ với luân kỳ kinh doanh ngắn được quan tâm hơn cả. Qua khảo nghiệm khoảng 50 loài đã chọn được 3 loài là Keo tai tượng (A.

mangium), Keo lá tràm (A. auriculiformis), Keo lá liềm (A. crassicarpa) và giống keo lai tự nhiên (A. auriculiformis) phù hợp cho mục đích trồng rừng cung cấp gỗ do chúng sinh trưởng nhanh, thích nghi rộng và phát triển thân tốt (Nambiar và Harwood, 2014) [68].

Các nghiên cứu cải thiện giống về sinh trưởng, tính chất gỗ cho keo chủ yếu được tập trung cho nhóm loài này. Dưới đây là khái quát kết quả của một số nghiên cứu đã được công bố trên thế giới. Nghiên cứu cải thiện giống theo tính trạng sinh trưởng cho một số loài keo * Nghiên cứu chọn xuất xứ, gia đình Keo tai tượng - Chọn xuất xứ Ở Indonesia, khảo nghiệm xuất xứ Keo tai tượng đã được thực hiện từ những năm 1970 với 4 xuất xứ từ Queensland được trồng thử nghiệm ở Sumatra. Đến những năm 1990, để tăng tính đa dạng di truyền, Indonesia tiếp tục nhập thêm các xuất xứ từ Queensland (Australia), Papue New Guinea về để trồng khảo nghiệm ở nhiều nơi trong cả nước nhằm đánh giá về khả năng thích ứng và sinh trưởng của chúng.

Năm 1992, một chương trình cải thiện giống Keo tai tượng ở Indonesia đã được khởi động, hạt từ vườn giống thuộc các 7 chương trình trước đây đã được sử dụng để xây dựng vườn giống thế hệ thứ 2 (Nirsatmanto và cộng sự, 2004) [99]. Kết quả, Indonesia đã chọn được những xuất xứ, gia đình Keo tai tượng có sinh trưởng nhanh, thích ứng tốt cho từng khu vực khảo nghiệm, năng suất có thể đạt > 40 m3/ha/năm (Nurhasybi và cộng sự, 2009) [101]. Nghiên cứu chọn xuất xứ Keo tai tượng cũng đã được thực hiện ở Phillipines từ những năm 1980 và đã chọn được 4 xuất xứ có triển vọng tại Talogon là Kini, Bensbach, Wipim (Papua New Guinea), Claudie River (Queensland) (Baggayan và Baggayan, 1998) [38]. Năng suất rừng trồng của các xuất xứ này có thể đạt 32 m3/ha/năm ở 10 tuổi.

Khamis (1991) [84] đã báo cáo, xuất xứ có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của Keo tai tượng ở Malaysia. Các xuất xứ Keo tai tượng có triển vọng: Western Province (Papua New Guinea), Claudie River (Queensland), Olive River (Queensland), Broken Pole Creke (Queensland), Abergowrie (Queensland) và Olive River (Queensland). Các xuất xứ này đều cho tăng trưởng đường kính > 3 cm/năm. - Chọn gia đình Nirsatmanto và cộng sự (2004) [99] đánh giá tăng thu di truyền của Keo tai tượng thế hệ 2 (hạt được thu từ các cây trội của 3 vườn giống thế hệ 1) ở Kalimantan (Indonesia) đã chỉ ra, tăng thu di truyền tính chung cho các gia đình đã được cải thiện về chiều cao, đường kính, độ thẳng thân và đa thân lần lượt là 3,1%, 5,2%, 4,3% và 0,5%.

Hầu hết các tính trạng nghiên cứu của các gia đình đã được cải thiện đều tốt hơn có ý nghĩa so với nguồn giống chưa được cải thiện. Một nghiên cứu khác của Nirsatmanto và cộng sự (2015) [98] đã chỉ ra, tăng thu di truyền thực tế của các gia đình Keo tai tượng thế hệ 2 ở Indonesia có thể đạt từ 5 – 24% cho chiều cao, 3 – 44% cho đường kính và 11 – 90% về thể tích thân cây so với giống chưa được cải thiện; và so với thế hệ 1 là 6 – 16%, 3 – 26% và 20 – 53% lần lượt cho chiều cao, đường kính và thể tích thân 8 cây. Nirsatmanto (2016) [97] đánh giá sinh trưởng của Keo tai tượng ở Indonesia từ 3 nguồn giống (2 nguồn hạt từ vườn giống thế hệ 2 và hạt chưa được cải thiện) với 2 mật độ trồng khác nhau (1.100 cây/ha và 2. Kết quả cho thấy, ở cả 2 mật độ, sinh trưởng và năng suất của 2 nguồn hạt đều cao hơn rõ rệt so với nguồn hạt chưa được cải thiện sau 3 tuổi.

Hidayati và cộng sự (2019) [73] đã đánh giá sinh trưởng của 65 gia đình Keo tai tượng ở tuổi 6 tại Indonesia, qua đó đã chọn được 18 gia đình có sinh trưởng nhanh. Tác giả cũng đã chỉ ra, tương quan giữa sinh trưởng và các tính chất gỗ là không chặt. Điều này cũng có nghĩa là có thể cải thiện được đồng thời về sinh trưởng và tính chất gỗ của Keo tai tượng bằng chiến lược cải thiện giống phù hợp. Pavlotzky và Murillo (2014) [104] báo cáo về sinh trưởng và chất lượng thân cây của 25 gia đình Keo tai tượng tại Los Chiles (Cost Rica).

Kết quả, hệ số di truyền ở cấp độ gia đình là rất cao (0,68). Tăng thu di truyền thực tế so với rừng trồng thương mại là 40,8%. Năng suất của 2 gia đình tốt nhất có thể đạt 22,9 m3/ha/năm ở tuổi 4. Kumar và cộng sự (2016) [89] đã chỉ ra, sinh trưởng của Keo tai tượng có sự khác biệt rõ rệt giữa các gia đình.

* Nghiên cứu chọn xuất xứ, gia đình Keo lá tràm - Chọn xuất xứ Kết quả khảo nghiệm Keo lá tràm tại Malaysia với 28 xuất xứ (7 đến từ Bắc Queensland, 15 đến từ Bắc Territory của Australia và 6 đến từ Papua New Guinea) cho thấy, các xuất xứ đến từ Queensland có sinh trưởng nhanh hơn các xuất xứ của 2 vùng còn lại (Shukor và cộng sự, 1993) [118]. Tại Thái Lan, đánh giá sinh trưởng của các xuất xứ Keo lá tràm từ nhiều xuất xứ khác nhau của Thái Lan, Papua New Guinea và Australia, Luangviriyasaeng và Pinyopusarerk (2002) [92] đã chỉ ra xuất xứ từ Queenland (Australia) cho sinh tưởng nhanh nhất, trong khi các xuất xứ địa phương của Thái Lan có sinh trưởng kém nhất. - Chọn gia đình Luangviriyasaeng và Pinyopusarerk (2002) [92] đánh giá biến dị di truyền 9 thế hệ 2 của 103 gia đình Keo lá tràm với nhiều xuất xứ khác nhau đến từ Thái Lan, Papua New Guinea, Australia. Kết quả, tất cả các gia đình từ vườn giống thế hệ 1 đều có sinh trưởng nhanh hơn so với các gia đình chưa được cải thiện giống.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, chất lượng thân cây cũng đã được cải thiện đáng kể so với thế hệ đầu. Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp ở cấp độ cây cá thể về các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng thân cây đều thấp nhưng có ý nghĩa về thống kê. Nghiên cứu về biến dị di truyền của Keo lá tràm ở Wonogiri (Indonesia), Susanto và cộng sự (2008) [122] đã chỉ ra, biến dị di truyền giữa các gia đình Keo lá tràm ở đây là cao. Hệ số di truyền tính cho cây cá thể là 0,33 về chiều cao, 0,40 về đường kính, 0,54 về độ thẳng thân, 0,48 về màu sắc gỗ, 0,18 về độ dày vỏ và khối lượng riêng gỗ.

Handayani và cộng sự (2018) [65] đã đánh giá sinh trưởng của các hậu thế của Keo lá tràm (thế hệ 2) tại Yogyakarta (Indonesia). Kết quả cho thấy, hệ số di truyền ở mức độ cây cá thể là 0,14 – 0,31, trong khi mức độ gia đình là rất cao (0,76 – 0,84). Tăng thu di truyền về chiều cao, đường kính và độ thẳng thân từ 4 – 7%. * Chọn tạo giống keo lai Keo lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm được Herburn và Shim phát hiện lần đầu vào năm 1972 xen lẫn trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook thuộc bang Sabah của Malaysia (Pinso và Nasi, 1992) [106].

Đánh giá ban đầu về keo lai cho thấy, sinh trưởng của cây lai F1 vượt so với Keo tai tượng ở hầu hết các lâm phần rừng trồng cho gỗ ở Sabah. Ở Ulu Kukut, ưu thế lai là rất rõ ràng, cây cao và to hơn nhiều so với giống cây bố mẹ. Tuy nhiên, keo lai từ các thế hệ F2 trở đi, sinh trưởng thậm chí còn chậm hơn so với Keo tai tượng, tuy vậy vẫn có những cá thể vượt trội. Hình thái của keo lai là sự kết hợp những đặc điểm tốt nhất từ cây bố mẹ như: thân thẳng, tán cân đối, cành nhỏ, thân tròn (Pinso và Nasi, 1992) [106].

Mặc dù keo lai đã được phát hiện và đã có những nghiên cứu ban đầu từ khá sớm. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chọn tạo giống keo lai vẫn chưa được quan tâm nhiều ở thời kỳ đó. 10 Đến đầu những năm 1990, việc nghiên cứu chọn tạo giống keo lai mới được một số nước trong khu vực quan tâm nhiều. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về keo lai mới được công bố trong những năm gần đây.

Sunarti và cộng sự (2013) [121] đã tiến hành đánh giá sinh trưởng của 44 dòng keo lai nhân tạo 12 tháng tuổi cho thấy, tỷ lệ sống đạt 93%, cao hơn tỷ lệ sống trung bình 4 giống đối chứng Keo lá tràm và Keo tai tượng (90%). Chiều cao trung bình của các dòng lai có sự phân ly lớn (1,5 – 4,5 m). Sinh trưởng chiều cao của 12 dòng tốt nhất vượt so với đối chứng Keo tai tượng được thu ở vườn giống thế hệ 1 từ 1,8 – 35,4%. Ba dòng tốt nhất có chiều cao vượt so với các đối chứng từ 3,5 – 17,3%.

Hệ số di truyền theo cấp độ dòng và cây cá thể đều rất cao, lần lượt là 0,96 và 0,59. Aimin và cộng sự (2014) [34] đã báo cáo sinh trưởng của 14 dòng keo lai của cùng một tổ hợp lai với mẹ là Keo lá tràm trên 3 lập địa khác nhau ở Malaysia. Theo đó, sinh trưởng D1.3, Hvn có sự khác biệt lớn giữa các dòng và giữa các lập địa. Qua đó, tác giả đã chọn được một số dòng keo lai có triển vọng, sinh trưởng D1.3 ở tuổi 3 – 4 đạt 16 – 17 cm.

Về khả năng chông chịu bệnh, keo lai được cho là có tiềm năng kháng hoặc chống chịu với bệnh chết héo tốt hơn so với Keo tai tượng do thừa hưởng đặc tính này từ Keo lá tràm. Vì thế, việc sàng lọc các tổ hợp lai và dòng keo lai có khả năng kháng hoặc chống chịu bệnh tốt nên được đặc biệt quan tâm với các chương trình chọn giống keo, bên cạnh các tính trạng khác như sinh trưởng, chất lượng thân cây và chất lượng gỗ (Harwood, 2016) [67].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu sinh trưởng, tính chất gỗ và bất thụ của keo tam bội: Cơ sở chọn giống và trồng rừng là một tài liệu quan trọng trong lĩnh vực lâm nghiệp, tập trung vào việc phân tích các đặc điểm sinh trưởng, tính chất gỗ và khả năng bất thụ của keo tam bội. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để lựa chọn giống cây trồng hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, quản lý lâm nghiệp và những người quan tâm đến phát triển bền vững tài nguyên rừng.

Để mở rộng kiến thức về chọn giống và trồng rừng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp tiếp tục nghiên cứu chọn giống keo lá tràm acacia auriculiformis a cunn ex benth có năng suất cao, nghiên cứu này cung cấp thêm thông tin về các giống keo có tiềm năng cao. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số cơ sở khoa học để trồng rừng xoan nhừ choerospondias axillaris roxb burtt et hill cung cấp gỗ lớn tại sơn la và lào cai cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp hiểu rõ hơn về các loài cây gỗ lớn và phương pháp trồng rừng hiệu quả. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc phục hồi rừng sau nương rẫy tại huyện mường lát tỉnh thanh hóa sẽ mang đến góc nhìn sâu sắc về phục hồi rừng, một khía cạnh quan trọng trong quản lý tài nguyên rừng bền vững.