Mở đầu. Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Danh mục các bài báo đã công bố. Tài liệu tham khảo. Luận án bao gồm 144 trang, 22 bảng và 19 hình. Tham khảo 98 tài liệu, trong đó 86 tài liệu tiếng Việt, 12 tài liệu tiếng Anh.
5 Chƣơng 1 Ổ QUA VẤ Ề Ê CỨU 1. ột số khái niệm Để có cơ sở nghiên cứu về phục hồi rừng sau CTNR, cần hiểu rõ một số khái niệm có liên quan, nhƣ: 1. Canh tác nương rẫy Hay còn gọi là nông nghiệp du canh, canh tác du canh. đƣợc biết đến nhƣ một hoạt động canh tác chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nƣớc ta và nhiều nƣớc trên thế giới.
Theo ngƣời dân, CTNR là chặt cây- đốt nƣơng- làm rẫy. Khái niệm đƣợc dùng nhiều nhất: "CTNR đƣợc coi là hệ thống canh tác nông nghiệp trong đó đất đƣợc phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn là thời gian bỏ hoá" (Conklin H. Gần đây, một khái niệm phản ảnh quan điểm động "Du canh là một chiến lƣợc quản lý tài nguyên, trong đó đất đai đƣợc luân canh, nhằm khai thác năng lƣợng và vốn dinh dƣỡng của phức hệ thực vật- đất của hiện trƣờng canh tác" (Mc Grath, 1987) (dẫn theo Võ Đại Hải và cộng sự, 2003) [25]. Chặt phá rừng làm nƣơng rẫy tại huyện ƣờng át 6 1.
Phục hồi rừng Trƣớc hết là phục hồi lại thành phần chủ yếu của rừng, là thảm thực vật cây gỗ; sự hình thành nên thảm cây gỗ này sẽ tạo điều kiện cho sự xuất hiện các thành phần khác của rừng, nhƣ: tầng cây bụi, tầng cỏ quyết, khu hệ động vật, vi sinh vật… và các yếu tố khác của rừng, nhƣ: chế độ nhiệt, chế độ ẩm… (Võ Đại Hải và cộng sự, 2003) [25]. Vì vậy, khái niệm phục hồi rừng sẽ có một ý nghĩa rộng lớn hơn là phục hồi lại cả một quần lạc sinh địa hay một hệ sinh thái rừng hoàn chỉnh; trong thực tế, quá trình phục hồi rừng đƣợc đánh giá bằng sự xuất hiện và chất lƣợng của thế hệ mới các cây gỗ. Phục hồi rừng là một quá trình sinh học, gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mới thảm cây gỗ bắt đầu khép tán; quá trình phục hồi sẽ tạo điều kiện cho sự cân bằng sinh học xuất hiện, đảm bảo cho sự cân bằng này tồn tại liên tục và cũng vì thế mà chúng ta có thể sử dụng chúng liên tục đƣợc (Võ Đại Hải và cộng sự, 2003) [25]. Phục hồi rừng sau nương rẫy Là quá trình phục hồi lại hệ sinh thái rừng trên đất nƣơng rẫy đã bỏ hoá.
ừng phục hồi sau nƣơng rẫy tại huyện ƣờng át 7 ình 1. ừng phục hồi sau nƣơng rẫy tại huyện ƣờng át 1. Tái sinh rừng Tái sinh là một thuật ngữ chỉ khả năng tự tái tạo hay sự hồi sinh từ mức độ tế bào đến một quần lạc sinh vật trong tự nhiên, các tác giả, nhƣ: Jordan, Peter và Allan (1998) đã sử dụng thuật ngữ này để diễn tả sự lặp lại của quần xã sinh vật, giống nhƣ nó đã xuất hiện trong tự nhiên. Tái sinh rừng cũng để mô tả sự tái tạo của lớp cây con dƣới tán rừng.
Tái sinh rừng, hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của cả hệ sinh thái rừng; hiểu theo nghĩa hẹp là sự phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng (dẫn theo Phùng Ngọc Lan,1986) [39]; hiểu dƣới góc độ kinh tế là tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng. Cấu trúc rừng Là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian trên quan điểm sản lƣợng rừng, cấu trúc là sự phân bố kích thƣớc của loài và cá thể trên diện tích rừng (Phùng Ngọc Lan, 1986) [39]. Cấu trúc rừng, bao gồm: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng thứ, cấu trúc tuổi, cấu trúc mật độ, cấu trúc theo mặt phẳng nằm ngang… Nhìn chung, 8 nghiên cứu cấu trúc rừng đã chuyển từ mô tả định tính sang phân tích định lƣợng dƣới dạng mô hình toán học để khái quát hoá các quy luật của tự nhiên; trong đó, các quy luật phân bố, tƣơng quan của một số nhân tố điều tra đƣợc quan tâm nghiên cứu. Tóm lại: Trong luận án này thống nhất sử dụng thuật ngữ canh tác nương rẫy và phục hồi rừng sau canh tác nương rẫy.
Cây có chiều cao bé hơn 2 m được hiểu là cây tái sinh; cây có chiều cao từ 2 m trở lên được hiểu là cây tái sinh triển vọng; cây có đường kính ngang ngực (D1,3) từ 6 cm trở lên được hiểu là cây gỗ. ghiên cứu về thực trạng canh tác nƣơng rẫy 1. Trên thế giới CTNR đã đƣợc các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ việc phân tích kiến thức cổ truyền của ngƣời địa phƣơng đến những ảnh hƣởng trực tiếp của CTNR đối với môi trƣờng. Katherine Warner (1991) [35], đã tổng kết một số vấn đề du canh tại vùng nhiệt đới thuộc Châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh trong cuốn sách "Một số vấn đề du canh liên quan đến kiến thức kỹ thuật địa phƣơng và quản lý tài nguyên tại vùng nhiệt đới ẩm thuộc Á- Phi- Mỹ la tinh", kết luận: Du canh thể hiện phản ứng của con ngƣời khi gặp khó khăn trong việc xây dựng một hệ thống nông nghiệp sinh thái ở trong rừng nhiệt đới.
Hệ sinh thái rừng nhiệt đới có đặc trƣng chung là đất dễ bị thoái hoá, cung cấp ít dinh dƣỡng nhƣng hệ động và thực vật đa dạng, phong phú, các loài cây có khả năng cạnh tranh đối với cây lƣơng thực, thực phẩm. Qua cách phát đốt thảm thực vật rừng ngƣời dân du canh đã tìm cách loại trừ các loài cây cạnh tranh, tập trung chất dinh dƣỡng để thâm canh các loài cây lƣơng thực. Đó là một tác động tích cực vào rừng để đạt tới quá trình diễn thế mới có ích cho ngƣời dân. Tuy nhiên, đối với ngƣời nông dân du canh tổng hợp, đó chỉ là sự can thiệp tạm thời vào hệ sinh thái rừng; diễn thế bắt đầu tái diễn, 9 trong nhiều trƣờng hợp các phƣơng thức du canh lại tích cực góp sức vào quá trình tái tạo của rừng.
Dạng du canh tổng hợp không phá rừng mãi mãi, nó thay thế rừng bằng một loạt diễn thế cây tái sinh mà đối với ngƣời du canh lại sinh lợi nhiều hơn là rừng tự nhiên ban đầu (FAO, 1978) (dẫn theo Katherine Warner, 1991) [35]. Ảnh hƣởng của CTNR đến môi trƣờng đƣợc nhiều tác giả quan tâm, nhƣ: Naprakabob et al (1975), nghiên cứu ảnh hƣởng của CTNR đối với chế độ thuỷ văn, lƣu vực nƣớc, xói mòn và độ phì của đất tuỳ thuộc từng nơi, cƣờng độ canh tác trên nƣơng rẫy, kỹ thuật canh tác và loại hoa màu canh tác. Saplaco (1981), nghiên cứu lƣợng xói mòn đất do CTNR ở vùng núi Makiling, Philippin, tác giả kết luận: Các nƣơng rẫy mới làm có mức độ xói mòn cao nhất, đất đồng cỏ có lƣợng đất mất ít nhất. Brunig và cộng sự (1975), đã chứng minh CTNR ở Sabah, Malaysia trong thời gian canh tác đã gây ra mức độ xói mòn từ 0,5 đến 2 mm đất (10- 40 tấn/ha) trên đất rừng tự nhiên (dẫn theo Nguyễn Văn Sở, 1996) [59].
Theo FAO (1980), cứ mỗi lần mảnh đất quay trở lại để phát đốt canh tác thì dinh dƣỡng trong đất lại bị cạn kiệt dần và năng suất của hoa màu ngày càng giảm, thời gian canh tác trên đất nƣơng rẫy ngắn dần. Song, theo Nye và Greenland (1960) nhiều nơi trên thế giới CTNR truyền thống đã kéo dài hàng trăm năm mà không thấy có dấu hiệu nào đất xấu đi và năng suất hoa màu giảm sút qua nhiều chu kỳ canh tác (dẫn theo Nguyễn Văn Sở, 1996) [59]. Như vậy, khi bối cảnh lịch sử dân số chưa đông, diện tích rừng tự nhiên còn nhiều, những mảnh nương rẫy giống như các lỗ trống trong rừng. Tuy nhiên, điều đó hiện nay không còn phù hợp vì các điều kiện trên đã hoàn toàn khác so với trước đây.
CTNR trên đất dốc ảnh hưởng đến xói mòn, rửa trôi chất dinh dưỡng của đất làm cho nó ảnh hưởng trực tiếp đến thảm thực vật sau nương rẫy. Ở Việt Nam CTNR là hình thức sản xuất nông nghiệp lâu đời gắn liền với đồng bào các dân tộc sinh sống tại vùng cao. Hiện nay, tài liệu nghiên cứu về CTNR chƣa nhiều, một số công trình điển hình, nhƣ: Trần Ngũ Phƣơng (1970) [45], nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mƣa mùa lá rộng thƣờng xanh đã nhận xét: rừng tự nhiên dƣới tác động của con ngƣời khai thác hoặc làm nƣơng rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dƣới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu.
Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2000) [53], điều tra đánh giá thực trạng CTNR các tỉnh Tây Nguyên, kết luận: sau khi bỏ hoá 1 năm thảm thực vật đã phục hồi đạt độ che phủ trên 50%; sau 8 năm nếu không có tác động, đốt phá thì độ che phủ đạt 85%, có nơi 95%. Nếu rẫy trồng cây đậu xanh có thời gian đất nghỉ một năm (8- 9 tháng) thì cây cỏ phục hồi cũng đạt độ che phủ 40%; sau khi bỏ hoá từ ba năm trở lên cây tái sinh mục đích đạt 1500 cây/ha; độ tàn che của những cây gỗ tái sinh cao trên 3 m, với đối tƣợng bỏ hoá 3- 5 năm là 0,2; bỏ hoá trên năm năm là 0,3; bỏ hoá trên 8 năm là 0,4. Nhƣ vậy, ở dạng bỏ hoá trên năm năm có khả năng đạt đƣợc mức độ rừng thƣa và nếu có biện pháp bảo vệ tốt thì độ tàn che có thể cao hơn. Lê Đồng Tấn và cộng sự (1995) [61], nghiên cứu thảm thực vật tái sinh trên đất sau nƣơng rẫy tại Sơn La qua ba giai đoạn phát triển: Giai đoạn I (thời gian bỏ hóa từ bốn đến năm năm), giai đoạn II (thời gian bỏ hóa từ chín đến mƣời năm), giai đoạn III (thời gian bỏ hóa từ 14 đến 15 năm), nhận xét: trong 15 năm đầu, thảm thực vật tái sinh trên đất sau nƣơng rẫy có số lƣợng loài đều tăng lên qua các giai đoạn phát triển.