Đặt vấn đề Cây đậu tƣơng (Glicine max (L) Merrill ), thuộc họ đậu (Fabaceate) còn gọi là đậu nành, là cây công nghiệp ngắn ngày và đem lại giá trị kinh tế cao. Khó có thể tìm ra loại cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt nhƣ cây đậu tƣơng vừa cung cấp thực phẩm cho con ngƣời, làm thức ăn gia súc, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cây làm tốt đất. Từ 5000 năm lại đây, Châu Á đã coi cây đậu tƣơng là “cây vào hàng cốc ngọc thực nuôi sống con ngƣời” và là nguồn cung cấp protein quan trọng nhất (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [4]. Hạt đậu tƣơng chứa nhiều chất dinh dƣỡng trong đó protein chiếm 38 – 40%, đây là nguồn protein thực vật có giá trị cao cung cấp cho con ngƣời.
Khi thiếu Protein trong thành phần thức ăn sẽ hạn chế sự sinh trƣởng và phát triển trí tuệ của trẻ em và giảm mức độ đề kháng với bệnh truyền nhiễm. S Lipit trong hạt đậu tƣơng chiếm 18 – 24% cao hơn so với các loại đậu khác. Hiđratcacbon chiếm khoảng 30 – 40%. Trong hạt đậu tƣơng còn chứa sắt, canxi, photpho và các thành phần chất xơ tốt cho tiêu hóa.
Hơn nữa vitamin trong đậu tƣơng có nhiều loại nhƣ vitamin PP, A, C, E. đặc biệt có nhiều nhóm B đáng kể là vitamin B1, B2, B6. Ngoài giá trị làm thực phẩm, đậu tƣơng còn là nguyên liệu trong công nghiệp nhƣ chế biến mỹ phẩm, cao su nhân tạo, chất dẻo, mực in, xà phòng. đến chế biến dầu bôi trơn động cơ (Đoàn Thị Thanh Nhàn và CS, 1996) [13] Việc phát triển cây đậu tƣơng còn là biện pháp làm tốt đất.
Vì nốt sần trên cây đậu tƣơng là “các nhà máy phân đạm tí hon”, có khả năng cố định đạm tự do nhờ sự cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium Japonicum để tổng hợp n 2 đạm khí trời, làm giàu đạm cho đất mà không hề gây ô nhiễm môi trƣờng, hơn thế nữa nó còn làm sạch bầu khí quyển giúp không khí trong lành hơn. Nhờ những ƣu điểm nổi bật trên mà cây đậu tƣơng đã trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống xã hội nhiều nƣớc trên thế giới. Diện tích, sản lƣợng đậu tƣơng trên thế giới tăng lên rất nhanh và là mặt hàng xuất khẩu đem lại nguồn thu đáng kể cho nhiều quốc gia. Trong điều kiện nhiệt đới ẩm của nƣớc ta, đậu tƣơng là cây trồng ngắn ngày dễ đƣa vào hệ thống luân canh, xen canh, gối vụ với các cây trồng khác, góp phần nâng cao năng suất cho cây trồng, cũng nhƣ nâng cao hệ số sử dụng đất.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hóa cây trồng ở nƣớc ta hiện nay, đặc biệt trong chiến lƣợc thâm canh tăng vụ. Trƣớc những nguồn lợi to lớn do cây đậu tƣơng đem lại, cũng nhƣ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm đậu tƣơng ở nƣớc ta. Chúng ta cần quan tâm phát triển đậu tƣơng, làm tăng năng xuất đậu tƣơng trên một đơn vị diện tích, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hƣớng sản xuất hàng hóa đồng thời đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tăng hiệu quả kinh tế cho ngƣời dân. Để đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tiễn của sản xuất nông nghiệp, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng đậu tương Việt Nam vụ Xuân tại Thái Nguyên năm 2017”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài: 1. Mục tiêu: Xác định đƣợc những dòng đậu tƣơng mới có khả năng sinh trƣởng tốt, năng suất cao trong điều kiện vụ Xuân tại Thái Nguyên làm cơ sở cho công tác chọn tạo giống. Yêu cầu: - Đánh giá khả năng sinh trƣởng, phát triển của các dòng đậu tƣơng tham gia thí nghiệm. - Đánh giá một số đặc điểm hình thái, thực vật học của các dòng đậu tƣơng tham gia thí nghiệm.
- Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng đậu tƣơng tham gia thí nghiệm. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài: 2. Cơ sở khoa học Để có đủ nguồn lƣơng thực, thực phẩm chất lƣợng nuôi sống toàn cầu trong bối cảnh khí hậu, môi trƣờng sinh thái có nhiều biến đổi, con ngƣời phải tiến hành một nền thâm canh hiện đại.
Nền sản xuất này dựa trên việc áp dụng một cách khoa học các yếu tố giống, phân bón và kỹ thuật chăm sóc, đồng thời phải bảo vệ đƣợc nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trƣờng. Trong các yếu tố trên, giống tốt đƣợc coi nhƣ một trong những trợ thủ đắc lực nhất giúp nông dân tăng nhanh hàm lƣợng chất xám trong nông sản. Sử dụng giống tốt có vai trò hết sức quan trọng trong công việc nâng cao năng suất chất lƣợng và phẩm chất cây trồng cải thiện. Mỗi một giống khác nhau thì có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau.
Muốn phát huy đƣợc hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu, đất đai, kinh tế xã hội của từng vùng. Để có những giống có năng suất, chất lƣợng cao, có khả năng cống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác chọn tạo giống đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Ngày nay nhờ có những thành tựu của công nghệ sinh học hiện đại và toàn cầu hóa thì công tác giống đƣợc hỗ trợ và thời gian tạo ra giống mới đƣợc rút ngắn rất nhiều. Các thành tựu khoa học đƣợc ứng dụng trong chọn giống nhƣ gây đột biến, chuyển gen, lai tạo, nhập nội giống.
Các giống đậu tƣơng tại Việt Nam hiện tại đƣợc sử dụng chủ yếu theo lai tạo và nhập nội. Khi chọn lọc hay nhập đƣợc giống mới thì việc khảo nghiệm tại các vùng tiểu khí hậu khác nhau để tìm ra giống tốt là rất quan trọng. n 5 Bằng con đƣờng nhập nội hoặc tạo ra các giống có tiềm năng năng suất cao, chất lƣợng tốt, phối hợp với khả năng chống chịu với các yếu tố ngoại cảnh bất lợi và chống chịu các loại sâu bệnh hại, đồng thời có khả năng cải tạo và bảo vệ đất. Đó chính là quá trình phát triển một nền nông nghiệp hiện đại bền vững.
Cơ sở thực tiễn Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, diện tích đất bỏ hoang còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nƣớc, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng một số loại cây có giá trị kinh tế thấp. Do đó, việc đƣa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tƣơng nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết, nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao thu nhập cho nông dân, cải thiện đời sống cộng đồng. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới và Việt Nam: 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới: Cây đậu tƣơng là một trong những cây trồng có vị trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và lâu đời nhất của nhân loại, có lịch sử trồng trọt khoảng 5000 năm và đƣợc thuần hóa từ rất sớm.
Đậu tƣơng chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu của thế giới: đậu tƣơng, bông lạc, hƣớng dƣơng, cải dầu, lanh, dừa và cỏ dầu. Hiện nay, có khoảng 78 nƣớc trồng đậu tƣơng, cây đậu tƣơng đã đƣợc đem trồng ở khắp các Châu lục và là cây lấy hạt, lấy dầu quan trọng bậc nhất của thế giới. Đứng hàng thứ 4 sau lúa mì, lúa nƣớc và ngô. Mặc dù cây đậu tƣơng có nguồn gốc từ Viễn Đông nhƣng khả năng thích ứng rộng nên nó đƣợc phân bố khá rộng từ 400 Vĩ Bắc đến 400 Vĩ Nam.
Châu Á tuy là nơi n 6 nguyên sản của cây đậu tƣơng tuy nhiên nó lại đƣợc trồng tập trung ở Châu Mỹ (70,03%), tiếp đó là Châu Á (23,5%), còn lại ở các châu lục khác. Từ những năm 1970 đến nay việc sản xuất đậu tƣơng của thế giới không ngừng tăng lên so với các cây lấy dầu khác và trở thành mặt hàng xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao cho nhiều nƣớc. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới trong những năm gần đây Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2008 96,5 24,0 231,3 2009 99,3 22,5 223,4 2010 102,8 25,8 265,0 2011 103,8 25,2 261,6 2012 105,4 22,9 241,6 2013 111,6 24,9 278,1 2014 117,7 26,2 308,4 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAO-2016) [23] Qua bảng số liệu 2.1 ta thấy: Về diện tích: Từ năm 2008 – 2014 diện tích trồng đậu tƣơng trên thế giới không ngừng tăng lên và dao động trong khoảng từ 96,5 – 117,7 triệu ha. Trong đó diện tích trồng đậu tƣơng đạt cao nhất năm 2014 là 117,7 triệu ha, tăng 21,2 triệu ha so với năm 2008.
Về năng suất: tƣơng đối ổn định trong những năm gần đây, dao động từ 22,5 – 25,8 tạ/ha. Năng suất đạt thấp nhất vào năm 2009 (22,5 tạ/ha) và cao nhất vào năm 2014 (26,2 tạ/ha). Về sản lƣợng: có xu thế tăng dần qua các năm (2008 – 2014) từ 231,3 – 308,4 triệu tấn. Tuy năm 2009 sản lƣợng giảm xuống còn 223,4 (giảm 7,9 n 7 triệu tấn so với 2008 là do năng suất thấp), nhƣng sau đó lại tăng lên vào năm 2010 (265,0 triệu tấn).
Từ đó tăng dần và đạt cực đại vào năm 2014 (308,4 triệu tấn). Trên thế giới có rất nhiều quốc gia trồng đậu tƣơng tuy nhiên sản xuất đậu tƣơng tập trung chủ yếu ở 4 nƣớc: Mỹ, Brazil, Acgentina và Trung Quốc (Phạm Văn Thiều, 2006) [12]. Sản lƣợng đậu tƣơng của 4 nƣớc này chiếm 90 – 95% sản lƣợng đậu tƣơng của toàn thế giới.2: Diêṇ tích, năng suấ t và sản lƣơ ̣ng đâ ̣u tƣơng của mô ̣t số nƣớc đƣ́ng đầ u thế giới Năm 2013 Năm 2014 Sản Tên Diêṇ tích Năng Năng Sản lƣợng Diêṇ tích lƣơ ̣ng nƣớc (triêụ suấ t suấ t (triêụ tấ n) (triêụ ha) (triêụ ha) (tạ/ha) (tạ/ha) tấ n) Mỹ 30,9 29,6 91,4 33,6 32,1 108,0 Brazil 27,9 29,3 81,7 30,3 28,7 86,7 Argentina 19,4 25,4 49,3 19,3 27,7 53,4 Ấn Độ 12,2 9,7 12,0 10,9 9,6 10,5 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAO-2016) [23] Qua bảng số liê ̣u 2.2: Nƣớc Mỹ năng suất đậu tƣơng cao nhất là 32,1 (tạ/ha), tiếp đó là Brazil và Argentina với năng suất là 28,7 và 27,7 (tạ/ha). Mỹ là nƣớc đứng đầu thế giới về diện tích (với 30,9 triệu/ha) và sản lƣợng đậu tƣơng tiếp đó là Brazil.