Đặt vấn đề Trong những năm gần đây nền kinh tế toàn cầu đã có sự phát triển vượt bậc. Các Quốc gia đều rất quan tâm đến công tác nhân giống, tạo những giống gà mới có năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển của các Quốc gia, vấn đề bảo vệ sinh thái và tài nguyên môi trường để phát triển bền vững là một thách thức lớn cần giải quyết. Bảo vệ nguồn gene gà gắn với bảo vệ tính đa dạng sinh học không những là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của các cấp, các ngành liên quan mà còn là của toàn xã hội.
Trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển, nguồn gene giống gà địa phương chiếm vị trí quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho xã hội. Các giống gà phong phú góp phần quan trọng trong bảo tồn tính đa dạng sinh học, có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển kinh tế và trong công tác lai tạo giống. Gà bản địa có nhiều ưu điểm như sau: dễ nuôi, có khả năng tự tìm kiếm thức ăn, chất lượng thịt thơm ngon, có thể nuôi trong điều kiện chăn thả hoặc bán chăn thả ở các vùng sinh thái khác nhau, có khả năng đề kháng tốt với bệnh tật. Gà nhiều cựa (thực ra là giống gà nhiều ngón) là tên gọi của một giống gà bản địa tại Việt Nam, với đặc trưng là có nhiều ngón.
Hiện nay, giống gà nhiều cựa chỉ còn rất ít ở các hộ gia đình người Dao tại huyện Đồng Hỷ, được nuôi theo hình thức bán chăn thả ở nông hộ, năng suất thấp, chưa có biện pháp bảo tồn bền vững và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ đã nuôi giống gà nhiều cựa từ lâu.Tuy nhiên, hiện nay giống gà này chỉ còn với số lượng ít ,nếu không có kế hoạch nghiên cứu, bảo tồn và phát triển thì rất dễ bị lai tạp và dần bị tuyệt chủng. Từ những yêu cầu của việc bảo tồn và phát triển gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa và sự giúp đỡ của các Thầy, Cô giáo trong nhóm nghiên cứu đề tài, em đã thực hiện chuyên đề: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của gà nhiều cựa theo phương thức và mật độ nuôi tại trại chăn nuôi gà, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên’’ n 2 1. Mục tiêu Xác định tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng, thu nhận thức ăn của gà nhiều cựa theo phương thức và mật độ chăn nuôi.
Từ đó xác định được phương thức và mật độ chăn nuôi phù hợp với giống gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Ngoại hình của gà Màu sắc của da và lông gia cầm là một trong những đặc điểm để nhận biết giống, giúp việc nhận dạng con giống.
Màu sắc da và lông được người chăn nuôi vận dụng như một chỉ tiêu dùng trong chọn lọc: nếu gia cầm là giống thuần thì thường có màu sắc đồng nhất, nếu gia cầm có bộ lông nhiều màu sắc là không thuần, bị pha tạp. Tính trạng bên ngoài quan trọng nhất của gà được những nhà chăn nuôi chú ý là màu lông và da của gà. Như vậy, sắc lông là một tính trạng của phẩm giống. Hầu hết các giống đều có đặc điểm riêng về sắc lông.
Sắc tố da và lông của gà được xác định bằng hai loại là xantofin, melanin. Xantofin là sắc tố màu vàng, chất này được gà lấy từ thức ăn, chỉ nằm ở da của những con có sắc vàng ở da, mỏ và cổ chân, hạn chế tích luỹ ở cơ, ở trong máu và mỡ. Melanin xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi. Ở những gà có màu, da thường có melanin.
Nếu lớp da cũng có chất xantofin thì da có màu óng ánh. Di truyền màu sắc da của các loài gà được giải thích như trên, về màu sắc lông thì phức tạp hơn. Màu sắc lông gà khác nhau là do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế bào khác nhau. Ngoài ra còn do số lượng các lớp tế bào cấu tạo nên lông và khả năng bắt ánh sáng của chúng.
Loại màu sắc này phụ thuộc vào cấu trúc tế bào. Ví dụ: các màu đen, đỏ thường thấy ở gà trống nhiều cựa. Người chăn nuôi thường phân biệt gà trống và gà mái qua bộ lông, qua lông gáy, vòng cung của cánh và lông đuôi. Gà trống thì lông đươi thường cong, dài và nhọn.
Màu sắc và kiểu lông của gia cầm là đặc điểm mang yếu tố di truyền. Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể là căn cứ để phân biệt trống, mái. Các giống, dòng gà khác nhau có mào khác nhau về màu sắc, hình dáng, kích thước. Người ta có thể căn cứ vào hình dạng mào có thể phân biệt các loại: mào cờ (mào đơn), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ.
n 4 Cổ chân, bàn và ngón chân của gà thường có vẩy sừng bao kín, cơ ở chân tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thường có ngón, vuốt và cựa. Cựa có vai trò trong quá trình sống, cạnh tranh sinh sản và đấu tranh sinh tồn. Các giống gà chân thường có 4 ngón, khi chân gà có từ 5 ngón trở lên thì được coi là gà nhiều ngón (trong dân gian quen gọi là gà nhiều cựa).
Tập tính và sức đề kháng của gà Gà tồn tại và phát triển được là do tính thích nghi với môi trường sống. Những phản ứng trở lại của cơ thể với các yếu tố môi trường tạo nên tập tính của giống. Gà có 2 nhóm tập tính chính: Tập tính bẩm sinh (Inborn): là những hoạt động cơ bản của cơ thể gà có ngay từ khi được sinh ra, mang tính bản năng, được di truyền từ gà bố mẹ, không thay đổi và không chịu ảnh hưởng của điều kiện sống và môi trường. Tập tính bẩm sinh được quyết định bởi yếu tố di truyền.
Tập tính thứ sinh (Acquired): là tập tính được hình thành trong quá trình sống do tiếp xúc giữa các cá thể gà với nhau. Các giống gà khác nhau có sức sống và khả năng đề kháng với bệnh tật khác nhau. Mỗi cá thể chịu ảnh hưởng bởi 2 yếu tố: yếu tố di truyền và yếu tố ngoại cảnh. Yếu tố di truyền tạo ra cho giống, cá thể có được sức sống và sự đề kháng bẩm sinh.
Còn các yếu tố thuộc môi trường ngoại cảnh như: dinh dưỡng, chế độ chăm sóc, quản lý, vấn đề chuồng trại, thời tiết khí hậu,. Nếu gà có sức sống tốt, khả năng thích nghi cao thì sinh trưởng, sinh sản tốt, tỷ lệ nuôi sống cao. Ngoài yếu tố di truyền do gene, giai đoạn hậu phôi của gà còn chịu tác động của môi trường sống (Brandsch and cs, 1978) [29]. Theo Trần Đình Miên và cs (1994) [15], các giống gà ở khu vực nhiệt đới có khả năng đề kháng với bệnh truyền nhiễm và các bệnh ký sinh trùng tốt hơn so với các giống gà sống ở khu vực ôn đới.
Tỷ lệ nuôi sống của gà Ri từ 0 - 9 tuần 92,11% (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999) [27]. Theo Trần Thị Mai Phương (2004) [18] tỷ lệ nuôi sống của gà Ác từ 0 - 8 tuần tuổi đạt 93,6 - 96,9%. Một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gà 2. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển Sự sinh trưởng của động vật thực chất là quá trình tổng hợp protein của cơ thể.
Người chăn nuôi thường căn cứ vào sự tăng khối lượng cơ thể của gia cầm để đánh giá khả năng sinh trưởng của chúng. * Sinh trưởng là gì? Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá rất phức tạp, kéo dài từ khi phôi được hình thành trong trứng cho đến khi gà trưởng thành. Theo Mozan (1977): Sinh trưởng là tổng hợp sự tăng lên về kích thước và khối lượng của các bộ phận như thịt, xương, da. Những tổ chức này có tốc độ sinh trưởng khác nhau.
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định quá trình sinh trưởng (dẫn theo Chamber, 1990) [29] ) Đối với gà, sinh trưởng là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng của các tổ chức và toàn cơ thể, thông qua tính chất di truyền và quá trình nuôi dưỡng, cung cấp thức ăn của con người. Sinh trưởng là quá trình tổng hợp protein đặc trưng cho từng cá thể của từng giống, dòng, từ nguồn thức ăn thu nhận từ bên ngoài, nhờ đó mà cơ thể tăng lên về khối lượng và kích thước. Theo tác giả thì gà con sinh trưởng mạnh nhất trong giai đoạn đầu sau khi nở, sau đó tốc độ sinh trưởng giảm dần. Theo Nguyễn Ân (1984) [1]: các giai đoạn sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác nhau.
Ngoài ra, trong quá trình sinh trưởng còn có sự đột biến ở một số cá thể, dòng, giống. Tốc độ sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận của cơ thể như: mô, xương, cơ (ở thời kỳ gà còn nhỏ thì xương phát triển mạnh, nhưng ở thời kỳ gà dò và gà hậu bị thì cơ lại phát triển nhanh). Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của gà Tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể gà là tính trạng số lượng, chịu ảnh hưởng lớn của các tác động từ môi trường (E) (Environment). Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [20], Đặng Vũ Bình (2002) [2] thì quan hệ giữa 3 yếu tố: kiểu hình P n 6 (Phenotype), kiểu gene G (Geneotype) và môi trường E (Environment) được biểu thị bằng công thức P = G + E.
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1998) [21], Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [10], căn cứ vào mức độ, tính chất ảnh hưởng của môi trường đối với vật nuôi mà môi trường (E) được chia làm hai loại: môi trường chung Eg (Geneeral environment) và môi trường riêng ES (Special environment). - Môi trường chung: là môi trường thường xuyên tác động đến tất cả các cá thể trong quần thể (đối với gà, là môi trường thường xuyên tác động đến tất cả các cá thể trong đàn gà). - Môi trường riêng: là môi trường chỉ tác động đến một số cá thể riêng biệt của quần thể. Loại môi trường này chỉ tác động trong một thời gian ngắn.
Theo Lê Đình Lương và cs (1994) [12], các giống gà đều nhận được từ tổ tiên của chúng một số gene quyết định tính trạng, trong đó có các tính trạng số lượng.