MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Từ xa xưa, con người đã biết tìm cho mình thức ăn và vị thuốc từ cây cỏ và tập phân biệt các loài cây độc. Nguyên liệu làm thuốc từ thực vật rất phong phú và đa dạng. Chúng đã được con người nghiên cứu và sử dụng từ xưa tới nay. Trong thời kỳ tân dược chưa phát triển thì đây là nguồn thuốc chữa bệnh chính.
Cây Hoàng đằng thuộc họ tiết dê (Menispermaceae) có tên gọi khác Hoàng liên đằng, dây vàng giang, Nam Hoàng liên có tên khoa học là Fibraurea tinctoria. Cây Hoàng đằng là 1 cây mọc leo, to, có rễ và thân già màu vàng, thân cứng, hình trụ, lá nhọn mọc so le cứng nhẵn phiến lá bầu dục gốc lá tròn hay cắt ngang, cụm hoa ngắn hơn, chỉ phân nhánh 2 lần. Hoa đơn tính, khác gốc, hoa đực có 6 nhị tự do, chỉ nhị dài hơn bao phấn. Quả hạch hình trái xoan, khi chín có màu vàng.
Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) phân bố khá rộng mọc hoang ở ven rừng nơi ẩm mát vùng núi, gặp nhiều từ Nghệ An vào tới các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ ngoài ra Hoàng đằng thường phân bố trong các trạng thái rừng thứ sinh ở các tỉnh miền núi từ Bắc vào Nam với độ cao dưới 1.000m so với mực nước biển. Do có nguy cơ bị tuyệt chủng nên loài cây này đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam từ năm 1996. Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) có giá trị cả về kinh tế và khoa học, được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền để chữa các chứng viêm tấy, sốt da vàng, bệnh về đường tiêu hóa.bộ phận để làm thuốc là thân già và rễ. Trong tự nhiên, loài cây này trước đây rất phong phú nhưng do khai thác không bền vững khai thác quá mức và liên tục trong nhiều năm, cùng với việc phát nương làm rẫy nên đã bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng nên hiện h 2 nay có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Vì vậy, việc nghiên cứu nhân giống nhằm bảo tồn và phát triển loài Hoàng đằng là cần thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây Hoàng đằng như: yếu tố đất đai, khí hậu, con người….Để biết được những yếu tố nào phù hợp nhất đến sự sinh trưởng và phát triển của cây tới mức tối đa nhất tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng cây Hoàng đằng-Fibraurea tinctoria Lour tuổi 3 tại xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên’’ 1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Xác định các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây Hoàng đằng tuổi 3. Xác định tỉ lệ sống, chất lượng cây trồng, khả năng sinh trưởng và tình hình sâu, bệnh hại cũng như các biện pháp phòng trừ. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn, phát triển cây Hoàng Đằng 1.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu sự sinh trưởng của Hoàng đằng nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn.
Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo trong học tập và nghiên cứu khoa học, trên lĩnh vực cây dược liệu và lâm sản ngoài gỗ.2 Ý nghĩa trong thực tiễn Giúp tìm hiểu thêm về các đặc điểm đặc tính tầm quan trọng của cây Hoàng đằng một loài dược liệu quý đã và đang được khai thác sử dụng tại Việt Nam. Đánh giá được khả năng sinh trưởng, tính thích nghi của cây Hoàng Đằng trên địa bán nghiên cứu. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học Cây Hoàng đằng nằm trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIA) của Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [15] của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Hoàng đằng Sách đỏ Việt Nam (1996) [3] mô tả Hoàng đằng là loài có thể tái sinh chồi trên thân già và ở rễ vào mùa xuân.
Hiếm gặp cây cái, do có khả năng tái sinh bằng hạt hiếm hoi. Cây sống dưới tán rừng thứ sinh, ở độ cao 10 - 200 m. Mọc trên đất cát lẫn đất đá. Cây đang bị khai thác quá mức để làm nguyên liệu chế biến dược liệu, có quy cơ tuyệt chủng rất cao.
Ðây là cơ sở để gây trồng cây Hoàng đằng nhằm phát triển và bảo tồn nguồn gen cây rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), bộ Mao lương (Ranunculales) [25]. Theo hệ thống phân loại thực vật APG II (Angiosperm Phylogeny Group II) năm (2003) [25]. Họ Tiết dê (Menispermaceae) có 75 chi, 450 loài. Trong đó có chi Hoàng đằng (Fibraurea) là chi gồm 5 loài dây leo, chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á.
Loài Fibraurea elliptica phân bố tại bán đảo Luzon Phillipines, loài Fibraurea laxa phân bố tại Indonesia, loài Fibraurea recisa phân bố tại các tỉnh Nam Bộ của Việt Nam, loài Fibraurea trotteri phân bố tại Ấn Độ, loài Fibraurea tinctoria Lour phân bố tại Việt Nam, Lào, Campuchia. Theo Joannis de Loureiro (1790) mô tả cây Hoàng đằng trong tập. Quần thể thực vật Đàng trong (Flora Cochinchinensis). Hoàng đằng là cây dây leo bằng thân quấn, dài tới 10m.
Vỏ ngoài của thân già nứt nẻ và gỗ có màu h 4 vàng. Thân non nhẵn, màu lục, ít phân nhánh. Lá mọc so le, hình trái xoan hoặc thuôn, dài 9 – 18 cm, rộng 3 -7 cm, gốc bằng hoặc hơi tròn, đầu có mũi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt, 3 gân chính rõ; cuống lá dài 5 – 14 cm, phình ở hai đầu. Hoa đơn tính khác gốc, cụm hoa chùm mọc ra ở phần thân già đã rụng lá.
Hoa nhỏ màu vàng chanh, có 6 lá đài, cánh hoa 3 rộng và mỏng hơn lá đài. Hoa đực có 6 nhị, chỉ nhị dài hơn bao phấn, hoa cái nhị lép hoặc không rõ, bầu hình trứng. Quả hạch hình xoan hay trứng thuôn, khi chín màu vàng, mùi khó chịu. Hạt 1 hình thuôn hơi dẹt.
Hoàng đằng ra hoa vào tháng 4 –5, quả chín vào tháng 11 – 12. Cây có khả năng tái sinh bằng hạt và chồi sau khi khai thác. Hoàng Tích Huyền (2011) [9], Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới. Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm dược tính mạnh nguồn gốc từ thực vật.
Ở Madagsaca người ta dùng cây Hồng hoa (Catharanthus roseus) để chữa bệnh máu trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỉ lệ sống của trẻ em. Lê Tùng Châu, Nguyễn Văn Tập (1996) [4], Nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của từng loài cây thuốc và bản chất hoá học của dược liệu được quan tâm trên quy mô rộng lớn. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh là một trong những yếu tố miễn dịch tự nhiên. Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp: Sulfua, saponin (Allium odium); becberin (Coptis chinensis Franch); tamin (Zizyphusjụuba Miller).
Mỗi loài cây với từng công năng tác dụng, ở mỗi địa phương lại được sử dụng riêng theo một bản sắc dân tộc. Lý Vãn Chính (2013) [5], Các vùng nhiệt đới trên thế giới, bao gồm lưu vực sông Amazon của châu Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ - Malaixia, Tây h 5 Phi chứa đựng kho tàng cây cỏ khổng lồ cũng như giàu có về tri thức sử dụng, có tiềm năng lớn trong nghiên cứu và phát triển dược phẩm mới từ cây cỏ Tran Cong Khanh và cs (2002) [25], Ở Trung Quốc, ngoài nền y học cổ truyền chính thống của người Hán (Trung Y), các cộng đồng không phải người Hán, với dân số khoảng 100 triệu người, cũng có các nền y học riêng của mình, gọi là y học dân tộc cổ truyền (Traditional Ethno- medicine) sử dụng khoảng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc. Trong đó, có 5 nền y học chính là y học cổ truyền Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài), Ugur, Thái (800 loài). Nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của cây Hoàng đằng trên thế giới Gao-Xiong Rao và cs (2009) [22], khi nghiên cứu về các thành phần hóa học của cây Hoàng đằng bằng phương pháp phân tích quang phổ cho thấy các alkaloid mới từ cây Hoàng đằng đã được xác định là 1,2- methylenedioxy-8-hydroxy-6a (R)- aporphine.
Thân của cây Hoàng đằng là một loại thảo dược chống nấm có hiệu quả. Theo Irokawa và cộng sự (Phytochemistry, 1986) đã phát hiện trong Hoàng đằng có 3 diterpenglycosist là tenophylloside 3, fibleucinoside 4 và fibraurinoside 5. Trước đó một số tác giả đã phát hiện 2 diterpen khác là fibleucine 1 và fibraucine 2, có tác dụng ức chế đối với các bệnh do vi trùng gây ra. Hoàng đằng có tên trong phần những cây thuốc và vị thuốc chữa lị trực trùng.
Trong Hoàng đằng chủ yếu là palmatin với tỷ lệ 1-3,5%. Ngoài ra, còn có một ít jatrorrhizin, columbamin. h 6 + Công dụng, tầm quan trọng của alkaloid và nguyên liệu chứa alkaloid WWF (1993) [27], Alkaloid nói chung là những hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh, có nhiều chất rất độc. Tác dụng của alkaloid thường khác nhau và tác dụng của các nguyên liệu thu hái không phải bao giờ cũng giống alkaloid tinh khiết.
Ở đây ta chỉ nhìn một cách tổng quát đồng thởi không bỏ qua các tác dụng khác nhau gây ra với liều điều trị và độc. Nhiều alkaloid có tác dụng trên hệ thần kinh trung ương gây ức chế mocphin, codein, scopolamin, reserpin hoặc gây kích thích strychnin, cafein, lobelin. Nhiều chất tác dụng lên hệ thần kinh giao cảm gây kích thích ephedrin, hordenin, các chất làm liệt hệ thần kinh giao cảm ergotamin, yohimbin hoặc kích thích phó giao cảm philocarpin, eserin; có chất gây liệt phó giao cảm như hyoscyamin, atropin; có chất phóng bế hoạch giao cảm như nicotin, spartein, conin. Trên thế giới hiện nay dùng nhiều thuốc tổng hợp nhưng vẫn không bỏ được các alkaloid lấy từ cây cỏ, vì có những chất cha tổng hợp được, và cũng có nhiều thuốc sản xuất tổng hợp không rẻ hơn chiết xuất hoặc tác dụng của hợp chất tổng hợp cha bằng tác dụng của chất lấy từ cây.
Cũng vì lý do đó mà nguyên liệu thực vật vẫn còn nhiều giá trị. Một số lớn dược liệu vừa dùng để chế các chế phẩm vừa để chiết alkaloid như: Hoàng đằng, ô đầu, coca, ipeca, thuốc phiện, mã tiền, ba gạc…Một số dược liệu khác hầu như chỉ để dùng chiết alkaloid như: Duboisi (chiết hyoscyamin và scopolamin), Ma hoàng (Ephedrin) [1].